- PHỎNG VẤN GS. TRẦN
CHUNG NGỌC
- Về Tài Liệu
"Dominus Jesus" của Vatican và
- "Thông Điệp Hướng Về
Thế Kỷ 21"
- của HT. Thích
Huyền Quang
- Giao Điểm
Lời Tòa Soạn: Qua những tác phẩm đã được xuất bản
như Công Giáo Chính Sử, Đức Tin Công Giáo v..v..và qua những bài viết
đăng trên Giao Điểm cùng một số báo khác, Giao Điểm (GĐ) biết Giáo sư
Trần Chung Ngọc (TCN) là người đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề tôn
giáo, đặc biệt là về Ki Tô Giáo nói chung, Gia Tô La Mã Giáo nói riêng, cũng
như về Phật Giáo. Trước một tài liệu tôn giáo của Vatican gây nhiều dư
luận trên thế giới, Giao Điểm đã gửi điện thư (E-mail) phỏng vấn Giáo
sư Trần Chung Ngọc về tài liệu này. Nhân tiện Giao Điểm cũng phỏng vấn
luôn về "Thông Điệp Hướng Về Thế Kỷ 21" của Hòa Thượng Thích
Huyền Quang. Giao Điểm xin cám ơn Giáo sư Ngọc đã để ra thì giờ trả lời
cuộc phỏng vấn.
GĐ: Theo dõi thời cuộc, giáo sư chắc đã biết, ngày 5
tháng 9, 2000, Hồng Y Ratzinger, với sự đồng ý của Giáo Hoàng John Paul II,
đã tung ra tài liệu "Dominus Jesus" mang hình thức tuyên ngôn dài 36
trang. Trong tài liệu này có hai điểm nổi bật gây nhiều dư luận trên thế
giới, một liên quan đến các tôn giáo phi-KiTô, và một liên quan đến khả
năng trung gian cứu rỗi duy nhất của giáo hội Gia-Tô:
1. ".. như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi,
những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng"
(..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)
2. "Giáo hội Gia-Tô La Mã là phương tiện duy nhất đem
đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại" (The Roman Catholic Church is
the only instrument for the salvation of all humanity)
Giáo sư có những nhận xét gì về tài liệu trên và nhất
là về 2 điểm quan trọng nêu trên?
TCN: Hồng Y người Đức Ratzinger, thường được biết qua
danh hiệu "Hồng Y Thiết giáp", vì ông ta có những hành động giống
như một khối sắt biết di chuyển, chuyên nghề xung kích, và qua lời
tuyên bố trước đây của ông về Phật Giáo: "Buddhism is a sort of
spiritual auto-eroticism" thì dường như ông ta không có mấy giáo dục và
đạo đức tôn giáo của ông ta là một dấu hỏi lớn. Tôi không lấy gì
làm lạ khi thấy con người nổi tiếng độc tài, chuyên bóp nghẹt tự do
trí thức ngay cả trong nội bộ giáo hội Gia Tô mang chức Hồng Y này tung
ra một tài liệu như vậy. Ông ta là cánh tay phải và là mặt trái của
Giáo hoàng John Paul II. Nếu không, ông không thể nào đứng đầu một bộ
phận quan trọng của tòa thánh gọi là "Bộ truyền bá giáo lý của đức
tin" (Congregation for the Doctrine of the Faith), vừa có nhiệm vụ mê hoặc
tín đồ bằng những giáo lý hoang đường và lỗi thời của Gia Tô Giáo,
vừa có nhiệm vụ bảo vệ đức tin thuộc loại không cần biết, không cần
hiểu, mà giáo hội Gia-Tô bắt các tín đồ phải tin, nếu không thì giáo
hội không cho lên thiên đường ở cùng Chúa. Trong cuốn Đức Tin Công
Giáo vừa mới xuất bản, tôi đã phân tích tạm gọi là đầy đủ về
đức tin này.
Tài liệu trên không có gì đặc biệt ngoài sự nhắc lại
những điều mà Giáo hội Gia-Tô đã tự nhận suốt 2000 năm nay tuy rằng
giới hiểu biết và trí thức ở trong cũng như ở ngoài giáo hội đều biết
rõ đó chẳng qua chỉ là những điều tự nhận vô căn cứ và không đúng
với sự thật. Theo dõi báo chí, chúng ta thấy có nhiều phản ứng trên thế
giới không mấy tốt đẹp trước một tài liệu thuộc loại nói lấy được
này. Nhưng nhận định sau đây về tài liệu "Dominus Jesus" của
Giáo sư Thần học Gia Tô nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, có thể nói
là mô tả vô cùng chính xác: "một sự pha trộn của tính chất lạc
hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền
về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican" (A mixture of medieval
backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in
which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate].
Muốn hiểu tại sao giáo sư Hans Kung lại nhận định như
trên chúng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa từ "salvation: cứu rỗi"
trong Gia Tô Giáo. Sách Catholic Word Book của Gia Tô Giáo giải thích về
"salvation" như sau, trang 37: " Sự giải thoát con người khỏi
tội (tổ tông) và những kết quả của nó; sự hòa hợp với Thần Ki Tô
trong và qua Chúa Ki Tô, sự hiệp thông vĩnh viễn với Thần Ki Tô trong sự
vinh quang của thiên đường như là mục đích cao cả nhất của cuộc đời
và như là phần thưởng của Thần Ki Tô ban cho những ai tuân theo ý Thần
trên trái đất.. Giáo hội dạy rằng: Thần Ki Tô muốn cứu rỗi mọi người;
con người được cứu rỗi trong và qua Chúa Ki Tô; làm thành viên của
giáo hội thiết lập bởi Giê Su Ki Tô là điều cần thiết để được cứu
rỗi; người nào hiểu biết như vậy mà cố ý từ chối giáo hội này
thì không thể được cứu rỗi" (The liberation of men from sin and its
effects, reconciliation with God in and through Christ, the attainment of union with God
forever in the glory of heaven as the supreme purpose of life and as the God-given reward
for fulfillment of his will on earth.. The Church teaches that: God wills the salvation of
all men; men are saved in and through Christ; membership in the Church established by
Christ is necessary for salvation; men with this knowledge and understanding who
deliberately reject this Church, cannot be saved). Chúng ta thấy ngay rằng, quan niệm
về "cứu rỗi" của Gia Tô Giáo đặt căn bản trên những huyền
thoại về sự hiện hữu của một ông Thần Ki Tô sáng tạo ra vũ trụ muôn
loài, về tội tổ tông đưa đến sự trừng phạt nhân loại , do đó con
người cần đến vai trò hòa giải của Giê-su giữa con người và Thần Ki
Tô, và nhất là về vai trò tự phong làm "trung gian cứu rỗi" của
Giáo hội Gia Tô mà giáo hội dạy rằng do chính Giê-su thành lập, trái hẳn
với những điều viết rõ ràng trong Thánh Kinh: Giê-su tin rằng ngày tận
thế sẽ xảy ra ngay trong thời mà vài tông đồ của ông còn sống. Tất cả
những quan niệm này, ngày nay đã trở nên lỗi thời, và trừ những tín
đồ đầu óc vốn đã mê mẩn với chiếc bánh vẽ "cứu rỗi"
trên trời, không còn mấy người cho rằng chúng có tính cách thuyết phục
trong thời đại này. Chúng ta nên để ý đến mánh mưu của giáo hội
trong lời giải thích trên: không phải là không chấp nhận Chúa thì không
được cứu rỗi, mà là không chấp nhận giáo hội Gia Tô.
Bây giờ, xét đến 2 điểm Giao Điểm nêu trên, chúng ta
có thể thấy rõ chúng đúng là những hoang tưởng có tính cách bệnh hoạn.
Điều hoang tưởng ở trong điểm 1 là cho rằng các tôn giáo phi-KiTô cũng
giống như KiTô giáo, đem "cái bánh vẽ ở trên trời" (từ của
Linh Mục Ernie Bringas), nghĩa là sự "cứu rỗi" của Giê-su, ra để
chiêu dụ những tín đồ đầu óc thấp kém, nhưng cái bánh này không được
đầy đủ bằng cái bánh vẽ của Gia Tô Giáo. Điều hoang tưởng ở trong
điểm 2 là cho rằng tất cả nhân loại đều cần đến sự "cứu rỗi"
của Giê-su cũng như cần đến vai trò trung gian tự tạo của giáo hội Gia
Tô La Mã. Khi khẳng định một điều hoang tưởng như trên, không hiểu Hồng
Y Ratzinger có nghĩ tới hơn 1 tỷ 2 dân Trung Quốc, hơn 1 tỷ dân Ấn Độ,
hơn 1 tỷ tín đồ Hồi Giáo, hơn 90% của 77 triệu người dân Việt Nam,
và tuyệt đại đa số dân chúng trong các nước ở Á Đông như Nhật Bản,
Đại Hàn, Thái Lan, Tân Gia Ba, Tích Lan, Miến Điện v..v.. hay không? Số
dân chúng đông đảo này, chiếm trên 2/3 tổng số hơn 6 tỷ dân trên thế
giới, có cần đến sự "cứu rỗi" của Giê-su hay không? Vậy, những
lời khẳng định như "Giáo hội Gia Tô La Mã là phương tiện duy nhất
đem lại sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại" phải chăng chỉ là
những lời nói càn, nói bướng, nói dai, nói dại, nói mà không biết ngượng,
không đếm xỉa gì đến thực tại hay không?
GĐ: Báo Người Việt ở Cali có phỏng vấn Giáo sư
Nguyễn Ngọc Bích (NNB) ở Virginia về 2 điểm trên. Giáo sư nghĩ sao
về những nhận định của giáo sư Bích mà Giao Điểm xin trích dẫn tóm tắt
sau đây:
"NNB: Tôi phải nói ngay là trong giáo hội La Mã, Đức
Giáo Hoàng có hơn một tư cách khi nói chuyện. Khi ông ta nói thường ở
ngoài đời thì lời ông nói sẽ không có giá trị đối với giáo hội.
Ở đây, ông ra một thông điệp nhân danh tòa thánh thì ta phải hiểu là
ông nói thay cho giáo hội La Mã, "ex-cathedra" như trong câu thành ngữ
La Tinh mô tả. Nói như vậy là ông nói nhân danh tòa thánh, không còn là
cá nhân ông John Paul II nói nữa dù như ông có là chủ chăn của giáo hội
La Mã lúc này. Những thông điệp như vậy, người ta gọi là "papal
bull", một thứ luật trong giáo hội La Mã mà ta có thể gọi một cách
chính xác hơn là "giáo luật..
..ông nói với giáo dân của ông (của tòa thánh La Mã) cũng
tựa như một ông vua nói với dân của mình dù như nước của Đức Giáo
Hoàng thì là "nước Chúa" chứ không phải "nước đời"..
..Đây là ta đang nói về đức tin. Đã nói về đức tin là chỉ có tin hay
không mà thôi, không lý luận.."
TCN: Giáo sư Bích đã trả lời hoàn toàn lạc đề. Vì như
Giao Điểm đã biết, vấn đề trên không dính dáng gì đến chuyện quyền
năng "ex-cathedra" của Giáo hoàng cả. Đó không phải là một
"papal bull" mà chỉ là một tài liệu của Hồng Y Ratzinger tung ra, với
sự đồng ý của Giáo hoàng. Tôi có cảm tưởng rằng giáo sư Bích không
theo dõi sự việc, không nắm vững vấn đề, cho nên đã trả lời lạc đề
như trên. Câu trả lời có tính cách xoay vấn đề sang một chủ đề khác
và do đó lạc dẫn độc giả nếu không muốn nói là biện hộ cho Giáo
hoàng tuy rằng Giáo hoàng chẳng có gì để mà phải biện hộ. Vì là một
câu trả lời lạc đề nên tôi không muốn phê bình câu này tuy rằng trong
đó có nhiều điểm đáng phê bình. Điều lạ đối với tôi là báo Người
Việt cho đăng một bài phỏng vấn mà câu trả lời hoàn toàn lạc đề,
phản ánh kiến thức hời hợt của người đi phỏng vấn cũng như của
người được phỏng vấn về tài liệu "Dominus Jesus".
GĐ: Giao Điểm xin đưa ra cùng một câu hỏi mà báo Người
Việt đặt trước giáo sư Nguyễn Ngọc Bích:
"Giáo sư lượng định ra sao về hậu quả bản tuyên
ngôn của tòa thánh Vatican, đối với mối quan hệ với các tôn giáo khác
và với ngay cả các giáo phái thờ phượng Thiên Chúa?"
Để có thêm ý kiến và cũng để độc giả Giao Điểm
biết rộng rãi hơn về vấn đề sôi nổi này, Giao Điểm xin kèm theo đây
câu trả lời của giáo sư Bích:
NNB: Tôi không nghĩ là thông điệp mới nhất của Đức Giáo
Hoàng sẽ gây ra vấn đề trừ phi là loại vấn đề "bão tố trong một
chén nước". Vì sao? Vì ông ta chỉ nhắc lại hai tín điều căn bản của
Giáo hội La Mã đã có từ hai nghìn năm nay, có gì mới mẻ đâu!
Vấn đề, nếu có, là tại ta – người không ở trong đạo
ông – đòi tranh cãi với ông về chuyện trong đạo ấy. Đại loại như
ta vào nhà hàng xóm song bảo họ không được làm thế này thế kia, phải
làm theo ta. Ta mà làm thế chính là ta can thiệp vào nội bộ của một tôn
giáo bạn.
TCN: Trước hết, tôi xin nhắc lại, đây không phải là một
thông điệp của giáo hoàng mà chỉ là một tài liệu của một Bộ do Hồng
Y Ratzinger cai quản. Tuy tài liệu trên có gây nhiều dư luận trên thế giới,
nhưng thế giới sẽ không có phản ứng gì nhiều, vì thật ra chẳng có
gì đáng để phản ứng cả. Như giáo sư Bích đã nhận định: "giáo
hoàng (thật ra là: "tài liệu trên") chỉ nhắc lại hai tín
điều căn bản của Giáo hội La Mã đã có từ hai nghìn năm nay, có gì mới
mẻ đâu!" Chỉ có điều, trong thời buổi này, hai tín điều trên
còn lại bao nhiêu giá trị, giá trị đó đặt trên căn bản nào, có thích
hợp trước những sự kiện hiển nhiên của khoa học về con người và vũ
trụ, và trước một thế giới đa nguyên, đa tôn giáo?
Tôi không đồng ý với "lý luận" của giáo sư Bích
cho rằng "Vấn đề, nếu có, là tại ta – người không ở trong đạo
ông – đòi tranh cãi với ông về chuyện trong đạo ấy. Đại loại như
ta vào nhà hàng xóm song bảo họ không được làm thế này thế kia, phải
làm theo ta. Ta mà làm thế chính là ta can thiệp vào nội bộ của một tôn
giáo bạn."
Lý luận so sánh của giáo sư Bích không được chỉnh. Nếu
nội dung tài liệu "Dominus Jesus" không dính dáng gì tới các tôn
giáo khác hoặc tới "toàn thể nhân loại" thì chúng ta có thể coi
đó là chuyện nội bộ của Gia Tô Giáo. Nhưng rõ ràng là tài liệu trên
mang sắc thái trịch thượng, kiêu căng vô lối, dựa trên một niềm hoang
tưởng để hạ thấp các hệ phái Ki Tô khác cùng các tôn giáo phi–Ki
Tô, cho nên đó không phải là chuyện riêng ở trong nhà ông hàng xóm.
Không thể nào so sánh một cách nông cạn, vô trách nhiệm và thiếu hiểu
biết như vậy.
Mặt khác, tài liệu trên đã cho thế giới thấy rõ truyền
thống "nói một đàng làm một nẻo" của giáo hội Gia Tô. Nhiều
phê bình gia cho rằng tài liệu trên đương nhiên xóa bỏ mọi nỗ lực
Hòa Hợp Tôn Giáo của các tôn giáo trên thế giới, kể cả của nhiều giới
lãnh đạo trong Gia Tô giáo, trong mấy thập niên gần đây, và chứa một
mâu thuẫn lớn trước những hành động, ít ra là ở ngoài mặt, có tính
cách Hòa Hợp Tôn Giáo của chính Giáo hoàng John Paul II. Nhưng cốt lõi của
vấn đề là nhiệm vụ của giáo hoàng và của hồng y Ratzinger đã được
phân định từ lâu.
Giáo hoàng có nhiệm vụ đánh bóng bộ mặt "thánh thiện"
của giáo hội Gia Tô qua những cuộc du hành để xin lỗi các nước trong
thế giới thứ ba về những tội ác của Gia Tô Giáo trong những quốc gia
này; đưa ra những nụ hôn hòa bình với những "người anh em xa cách"
Tin Lành và Chính Thống; thăm viếng Giáo Đường Do Thái hay Đền Thờ Hồi
Giáo; bắt tay với vài nhân vật tiếng tăm trong Phật Giáo vàẤnĐộ Giáo;
khuyến khích các quốc gia phải bảo tồn nền văn hóa của mình; cổ xúy
tranh đấu cho nhân quyền và tự do v..v.. Đằng sau những bộ mặt "thánh
thiện", "hòa hợp tôn giáo" v..v.. này là những hành động
ngược hẳn lại, điển hình là đồng ý để cho Ratzinger đưa ra những lời
tuyên bố láo lếu về tôn giáo khác, những biện pháp bóp nghẹt tự do,
dân chủ và nhân quyền ngay trong nội bộ giáo hội, và văn kiện
"Dominus Jesus" có tính chất trịch thượng vô lối ở trên.
Có lẽ các hệ phái Ki Tô khác không có nhiều phản ứng,
hoặc nếu có cũng chỉ qua loa, vì họ đã biết rõ bản chất của Gia Tô
giáo qua 2000 năm lịch sử, cho nên, giáo hội Gia Tô muốn nói gì thì nói,
vấn đề là thế giới coi những lời nói đó như thế nào, có bao nhiêu
giá trị? Còn những tôn giáo phi – Ki Tô thì lại càng không cần để ý
đến những lời tuyên bố tầm phào của giáo hội Gia Tô mà họ coi như
không có một giá trị thực tế nào, bởi vì ngay chính tín đồ Gia Tô ở
các nước tân tiếnÂuMỹ cũng chẳng coi những giáo luật của Giáo hoàng
ra gì, huống chi là vài lời tuyên bố không tưởng xuất phát từ văn phòng
của hồng y thiết giáp Ratzinger.
GĐ: Giáo sư có những suy đoán về lý do gì mà Vatican
lại tung ra một tài liệu thuộc loại như trên?
TCN: Lý do đó chẳng có gì là khó hiểu vì đây không phải
là lần đầu tiên mà Vatican, dưới nhiều bộ mặt khác nhau, tung ra một
tài liệu thuộc loại như vậy. Dư luận chung trên thế giới cho rằng tài
liệu này phản ánh sự lo sợ của Vatican trước sự suy thoái của Gia Tô
giáo trên khắp thế giới. Nếu chúng ta để tâm theo dõi những hoạt động
níu kéo tín đồ của giáo hội Gia Tô thì chúng ta sẽ thấy rõ đúng là
như vậy. Sau đây là vài sự kiện điển hình:
1. Giáo hoàng John Paul II đã viết cuốn
"Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" để hạ thấp các
tôn giáo khác cùng lúc tôn vinh tính cách duy nhất của Giê-su. Điều này
đã gây nên phản ứng trong Phật Giáo và Tòa Thánh đã phải xin lỗi Phật
Giáo. Ngoài ra, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng như Đức Đạt Lai Lạt Ma
cũng đã dạy khéo cho Giáo hoàng một bài học về thái độ tự tôn trịch
thượng này (Xin đọc Living Buddha, Living Christ của Thích Nhất Hạnh, trang
193, và bài phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma của Jean Claude Carrière trong tờ
Tricycle số mùa Thu 95, trong đó Người phê bình: "Bất cứ ai loại trừ
những người khác thì đến lượt mình sẽ bị loại trừ. Những người
đoan quyết rằng Thần của họ là duy nhất (Trong cuốn BQNCHV, John Paul II
đã viết Chúa Giê-su là duy nhất) là đang làm một công việc nguy hiểm
và độc hại, vì họ đang ở trên con đường, bằng mọi cách có thể
được, áp đặt niềm tin của họ trên những người khác")
2. Hoảng hốt trước tình trạng mỗi ngày có tới 8000
giáo dân bỏ đạo ở Nam Mỹ và Phi Châu để theo Tin Lành, Giáo Hoàng đã
không còn tự chủ và thốt ra lời phê bình những nhà truyền giáo Tin
Lành là "những con chó sói đói mồi" đến gây chia rẽ trong những
cộng đồng Gia Tô.
3. Giáo Hoàng đã níu kéo tín đồ bằng biện pháp có vẻ
quá rẻ rúng sau đây: "Các tín đồ Gia Tô, nếu bỏ thuốc lá hay bỏ
uống rượu 1 ngày, thì sẽ được xá hết tội trên trần cũng như nơi ngục
luyện tội". Báo Chuyển Luân cho rằng như vậy là "từ nay, các
tín đồ Gia Tô có thể phom phom lên thiên đường trên xa lộ không đèn".
4. Tòa "Thánh" đã phải dùng đến sách lược
"phong Thánh" bừa bãi cho một số tội đồ của một số quốc
gia, ví dụ như cho một số Việt Gian, Hán gian v..v.. để khích lệ và
nuôi dưỡng lòng sùng tín và cuồng tín của những giáo dân trong những nước
mà dân chúng chưa bao giờ được biết đến lịch sử tàn bạo của giáo
hội Gia Tô. Sách lược này đã làm cho Hồng Y Silvio Oddi phải thốt lên lời
than: "Vatican đã trở nên một cái xưởng sản xuất thánh" (Vatican
has become a saint factory).
Những sự kiện trên, phối hợp với những tài liệu trong
cuốn Tội Lỗi Của Giáo Hoàng: Cấu Trúc Của Sự Lừa Dối (Papal
Sin: Structures of Deceit) của sử gia Gia Tô Garry Wills mới xuất bản gần đây,
chương 10: Ở Mỹ, năm 1965 có 50000 người vào trường Dòng học nghề linh
mục, đến 1997 chỉ còn có 5000 (1/10), 2 năm sau, 1999, số này chỉ còn
phân nửa, nghĩa là 2500; cứ 100 linh mục chết hoặc từ chức, ở Ý chỉ
có thể thay thế 50 linh mục mới; số linh mục thay thế còn thấp hơn ở
các nơi: Tây Ban Nha: 35; Đức: 34; Pháp: 17, và Bồ Đào Nha: 10 (chúng ta nên
để ý, các quốc gia trên vốn là cái nôi có thể nói là toàn tòng Gia Tô
Giáo); chương 12, 13: vấn đề đạo đức trong giới linh mục đã lên tới
mức báo động: trong 188 giáo xứ Gia Tô ở Mỹ, không có giáo xứ nào là
không có linh mục bị truy tố về tội cưỡng bách tình dục trẻ em hoặc
nữ tín đồ; từ 1983 đến 1987, trung bình cứ mỗi tuần lễ lại có một
vụ bị phanh phui chưa kể những vụ bị dấu đi; tháng 9, 1994, có 60 linh mục
ngồi tù về tội này; linh mục Andrew Greeley cho rằng có 25% linh mục đồng
giống luyến ái (gay), học giả Gia Tô Jason Berry bảo con số này thực sự
cao gấp đôi; ít nhất là có 400, con số này có thể gấp đôi, linh mục
chết về bệnh AIDS, tỷ lệ cao gấp từ 4 đến 8 lần tỷ lệ của quần
chúng; phỏng vấn những "gay priests" cho biết, trong các trường Dòng
trước năm 1960 có 51% tu sinh đồng giống luyến ái, và sau 1980, con số
này lên tới 70%.., chúng ta thấy rõ ràng, đúng như dư luận thế giới, tài
liệu "Dominus Jesus" phản ánh sự lo sợ của Vatican trước đà suy
sụp của Gia Tô giáo trên hoàn cầu.
GĐ: Với cương vị của một cư sĩ Phật Giáo Việt
Nam, giáo sư có những nhận định gì về tác dụng của tài liệu trên đối
với Phật Giáo?
TCN: Phật Pháp không tranh cãi với các pháp thế gian. Cho
nên, tôi không đứng trên lập trường Phật Giáo, hoặc dựa trên giáo lý
của Đức Phật để mà đưa ra những nhận định về tài liệu trên. Sau
đây chỉ là những ý kiến cá nhân, dựa trên sự hiểu biết của tôi về
vấn đề liên hệ.
Nhận định chi tiết về vấn đề trên không thể gói
ghém trong khuôn khổ một bài phỏng vấn. Cho nên, tôi chỉ có thể đưa ra
ở đây vài nhận xét tổng quát.
Thứ nhất, tôi nghĩ tài liệu này không có tác dụng gì đối
với Phật Giáo, vì tòa thánh bây giờ không còn cái quyền "cha nhà thờ,
tha hồ nói, bàn dân thiên hạ chỉ có quyền nghe", và đúng như John
Remsburg đã nhận xét: "Thanh gươm và bó củi đã bị tước khỏi bàn
tay đẫm máu của giáo hội". Ngày nay, bàn dân thiên hạ không những
chẳng cần nghe giáo hội nói mà còn có quyền phê phán, chất vấn những
lời tuyên bố một chiều của giáo hội. Chuyện "chuộc tội" hay
"cứu rỗi" là chuyện của Ki Tô Giáo, chẳng liên quan gì đến Phật
Giáo, dù giáo hội Gia Tô hoang tưởng, cho rằng cả nhân loại, trong đó
có Phật Giáo và nhiều tôn giáo khác, đều cần đến những điều mê
tín thuộc thời Trung Cổ của Gia Tô giáo.
Thứ nhì, tài liệu trên không có căn bản lương thiện trí
thức, vì tòa thánh đã dùng đến những sách lược đối nghịch hẳn với
những sự thực đã xảy ra trong giáo hội, cho nên không thể thuyết phục
được ngay cả những tín đồ Gia Tô trong những quốc gia tân tiến, huống
chi là đối với người ngoài. Thật vậy, chúng ta đã biết: Giáo hoàng đã
nhân danh "hội thánh" thú nhận sự sai lầm của giáo hội trong vụ
án Galileo Galilei cách đây hơn 360 năm (nghĩa là phá bỏ tín điều "Thánh
kinh là những lời mạc khải không thể sai lầm của Thần Ki Tô");
công nhận thuyết Big Bang, nguồn gốc sự sinh ra của vũ trụ (nghĩa là vứt
bỏ thuyết sáng tạo trong thánh kinh); công nhận thuyết tiến hóa do Charles
Darwin khởi đầu đưa ra (nghĩa là phủ nhận huyền thoại Adam và Eve do Thần
Ki Tô "sáng tạo" ra từ đất sét, do đó không làm gì có "tội
tổ tông" và kéo theo tính chất hoang đường của vai trò "chuộc tội"
và "cứu rỗi" của Giê-su); phủ nhận sự hiện hữu của thiên
đường và hỏa ngục (nghĩa là không làm gì có chỗ nào để cho Giêsu bay
kên trời ngự bên phải Thần Ki Tô, và để cho những người tin Giêsu sẽ
lên đó mà hưởng sự sống đời đời sau khi chết, và không làm gì có
cái gọi là ngày phán xét cuối cùng khi đó các xác chết đã mục nát qua
bao thế kỷ sẽ sống lại để mà hiệp thông với Chúa); xưng thú 7 núi tội
lỗi của "hội thánh" Gia Tô và xin được tha thứ (nghĩa là những
thuộc tính mà giáo hội tự nhận và nhét vào đầu tín đồ như "duy
nhất thiên khải, thánh thiện, công bằng, bác ái
v..v..", chỉ là những lời lừa dối để chiêu dụ số
tín đồ kém hiểu biết). Nhưng, một mặt giáo hội vẫn cố gắng ngăn chận
sự phổ biến những diễn biến như trên trong quần chúng giáo dân, một mặt
vẫn đưa ra những tín lý đã lỗi thời bắt tín đồ phải tin và nhất
là phải tin vào vai trò trung gian tự phong của giáo hội, định chế duy nhất
có thể đem lại sự "cứu rỗi" cho giáo dân. Tôi cho như vậy là
không được lương thiện, vì giáo hội vẫn đưa ra những giáo lý mà
chính giáo hội không còn tin để lừa dối và mê hoặc đầu óc tín đồ.
Để làm gì, nếu không phải là để duy trì những quyền lợi thế tục?
Sự bất lương của tòa thánh thực ra cũng chẳng có gì
là mới lạ mà có thể coi như là truyền thống của Vatican. Trong cuốn Papal
Sin, Garry Wills đã dùng tới 230 trang qua 15 chương để viết về hai đề
tài: Bất Lương Trong Sự Bóp Méo Lịch Sử (Historical Dishonesty) và Bất
Lương Trong Vấn Đề Giáo Lý (Doctrinal Dishonesty).
Sau cùng tác dụng duy nhất của tài liệu trên đối với một
thiểu thiểu số những Phật tử nào, Tăng cũng như tục, đang rơi vào
cái bẫy "Liên Tôn" của Gia Tô Giáo là mở mắt họ ra, cho họ thấy
rõ bản chất của Gia Tô Giáo. Tài liệu trên đã chứng tỏ, theo quan điểm
của Gia Tô giáo, không làm gì có chuyện bình đẳng giữa các tôn giáo,
và chủ trương của giáo hội Gia Tô vẫn là "đem sự cứu rỗi của
Giêsu đến toàn thể nhân loại", uẩn hàm không chấp nhận bất cứ
tôn giáo nào ngoài Gia Tô giáo, hay nói khác đi, phải dẹp bỏ mọi tôn
giáo phi-Ki Tô. Lịch sử cho thấy, bất cứ ở nơi nào trên thế giới mà
Gia Tô có quyền lực là chính sách Gia Tô hóa được thi hành với mọi thủ
đoạn: Thời Trung Cổ ở ÂuChâu; thời cận đại ở Tây Ban Nha, Croatia,
Nam Việt Nam v..v.. Cho nên, chiêu bài hòa hợp tôn giáo, hay liên tôn, hay đối
thoại v..v.. của Vatican chỉ là những chiêu bài trên đầu môi chót lưỡi,
có mục đích lừa dối dư luận, và nhất là đối với cộng đồng Việt
Nam hải ngoại, chỉ là lợi dụng các tôn giáo khác chống Cộng thay cho
Gia Tô Giáo. Đối với tôi, quý vị nào "liên tôn" với Vatican
không làm gì khác hơn là "làm thí quân xung phong chống Cộng, làm phương
tiện cho Vatican, ngồi yên vị đằng sau hậu trường, tạo áp lực khuynh
loát chính quyền Việt Nam trong mưu đồ Gia Tô hóa Việt Nam".
Quý vị này đã không biết đến, hoặc quên đi bài học lịch
sử: tại sao Phật Giáo phải tranh đấu năm 1963, và tại sao cho tới ngày
nay, từ giáo hoàng cho đến những tên nô lệ trí thức vẫn tiếp tục
xuyên tạc, bôi nhọ Phật Giáo v..v..
GĐ: Ngoài hai điểm đặc biệt trên, Vatican còn bác bỏ
quan niệm rằng các tôn giáo khác có thể coi như ngang hàng với Gia Tô La
Mã Giáo (rejecting the concept that other religions could be considered equal to Roman
Catholicism), giáo sư có ý kiến gì về lời khẳng định này?
TCN: Tôi phải đồng ý với Vatican về điểm này, nghĩa là
không có tôn giáo nào khác có thể sánh được với Gia Tô La Mã Giáo. Này
nhé, Gia Tô La Mã Giáo là tôn giáo duy nhất có chính sách "ngu dân dễ
trị". Ngay từ thuở lập giáo, Gia Tô giáo đã chủ trương tiêu diệt
văn hóa của các tôn giáo hoặc tín ngưỡng khác, đốt tất cả những sách,
tài liệu nào không hợp với những điều "giáo hội dạy rằng",
khi không còn đốt được nữa thì ra danh sách cấm tín đồ đọc những
cuốn sách mà giáo hội không ưa, cấm luôn cả tín đồ đọc thánh kinh sợ
tín đồ nhận ra những điều sai lầm, độc ác, mâu thuẫn, hoang đường
trong thánh kinh. Đây cũng là giáo hội duy nhất trên thế giới đã đưa toàn
thểÂuChâu vào thời đại man rợ và đen tối trí thức kéo dài suốt 1000
năm, từ thế kỷ 5 đến đầu thế kỷ 16; đã gây ra những cuộc chiến
tranh tôn giáo được cưỡng gọi là "thánh chiến", tàn bạo và
man rợ nhất thế giới; thiết lập những tòa hình án để tra tấn và
mang đi thiêu sống 11 triệu người "dị giáo" và cướp đi tài sản
của họ; đã đưa ra giáo điều vu cho người Do Thái cái tội "giết
Chúa" để gây hận thù và bách hại dân Do Thái với cao điểm là 6
triệu dân Do Thái bị đưa vào những lò sát sinh của Đức quốc xã; đã
ủng hộ phát xít Đức và Ý, và khi chiến tranh chấm dứt đã dùng những
hội từ thiện và tu viện của giáo hội để giúp cho nhiều tội phạm
chiến tranh Đức, Croatia đào thoát, ngăn cản sự thực thi công lý quốc tế;
đã làm tiền phong hoặc song hành với thực dân để đi truyền đạo ở các
nước kém mở mang ở Phi Châu, Nam Mỹ, Á Châu v..v..; đã bày đặt ra những
"phép lạ" để mê hoặc đầu óc tín đồ; và sau cùng, là tôn
giáo duy nhất mà giáo hoàng phải bôn ba vất vả đi khắp nơi hơn 100 lần
xin lỗi bàn dân thiên hạ về những tội ác của Gia Tô Giáo đối với nhân
loại với cao điểm là vụ xưng thú 7 núi tội lỗi và xin được tha thứ
ở thánh đường Phê-rô gần đây.
Vậy làm sao mà có tôn giáo nào khác có thể sánh ngang với
Gia Tô La Mã Giáo được? Tôi đồng ý với Vatican chính là ở những điểm
này.
GĐ: GĐ xin hỏi thêm giáo sư một câu về vấn đề
tôn giáo: Trong tờ Thế Kỷ 21, số 139, có bài phỏng vấn giáo sư Đỗ
Mạnh Tri (ĐMT), tác giả cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng" trước đây
mà người phỏng vấn cho rằng "đã đưa ra một tiếng nói hòa nhã và
trí thức, và đã thuyết phục được nhiều người đọc". Khi được
hỏi về cuốn sách mới "Đọc Thông Điệp Hướng Về Thế Kỷ
21 của Hòa Thượng Huyền Quang" của giáo sư ĐMT, gs ĐMT trả lời:
"Thông điệp trên là một sự lầm lẫn" vì "Điểm quan trọng
nhất là thay vì giúp cho đồng bào Việt Nam và Phật tử nói riêng hướng
về thế kỷ 21, thì Thông Điệp lại nhằm tấn công Giáo Hội Công
Giáo." Thông điệp của Hòa Thượng Huyền Quang thì chắc giáo sư đã
đọc rồi, Giáo sư có nhận xét gì về thông điệp trên và về những ý
kiến của giáo sư ĐMT?
TCN: Giao Điểm đặt cho tôi một câu hỏi mà tôi không thể
nào trả lời cho đầy đủ trong phạm vi một bài phỏng vấn vì tôi phải
đi vào việc phân tích bản Thông Điệp cũng như cuốn sách của giáo sư
ĐMT phê bình Thông Điệp. Cho tôi một thời gian khoảng 1 năm thì may ra
tôi có thể làm xong công việc này, nhưng tôi nghĩ tôi còn nhiều việc
khác quan trọng hơn. Cho nên sau đây tôi chỉ có thể trả lời vắn tắt.
Giáo sư Tri viết cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng với một
văn phong tương đối hòa nhã nhưng không có mấy giá trị trí thức. Văn
phong hòa nhã là một chuyện, giá trị trí thức về nội dung lại là một
chuyện khác. Tôi đã phê bình cuốn sách này trong cuốn "Phê Bình Những
Phê Bình Cuốn "Đối Thoại Với Giáo Hoàng": Ông Đỗ Mạnh Tri,
Giao Điểm xuất bản, 1997", và chứng minh rằng kiến thức và lập luận
của giáo sư Tri trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng không có gì đáng kể,
khoan nói đến sự hiểu biết của ông về Phật Giáo và về chính tôn
giáo của ông, Gia Tô La Mã Giáo. Tôi đã đọc Thông Điệp của Hòa Thượng
Huyền Quang cũng như cuốn sách phê bình thông điệp này của giáo sư ĐMT
và cả bài phỏng vấn ông trong Thế Kỷ 21.
Cũng như cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng", cuốn
sách mới của ông Đỗ Mạnh Tri không có giá trị trí thức vì ông đã nhấn
mạnh vào sự phê bình lặt vặt vài tiểu tiết về hình thức trong bản
thông điệp, còn về phần nội dung thì ông đã phê bình sai, dựa trên kiến
thức Gia Tô một chiều và rất giới hạn của ông về những vấn đề liên
hệ.
Trước hết, tôi xin có vài nhận xét về thông điệp của
Hòa Thượng Huyền Quang. Về hình thức, trong bản văn có những câu viết
không được chỉnh tuy ý tưởng không sai, và cũng có một vài từ không
được chính xác, đây chính là điểm yếu để ông ĐMT khai thác. Về nội
dung, ý tưởng nhiều khi quá súc tích đến độ khó hiểu đối với độc
giả thông thường, chưa để tâm nghiên cứu về những vấn đề liên hệ.
Nói cho đúng, đây là một bản nhận định khá chính xác về mọi khía cạnh:
tinh thần, vật chất, kinh tế, xã hội v..v.. của nhân loại trong 2 thiên
niên kỷ vừa qua hơn là một thông điệp tôn giáo của một vị lãnh đạo
Phật giáo cho các Phật tử theo nghĩa không có nhiều chi tiết chỉ đạo
đường hướng hoạt động cho Phật tử trong thế kỷ mới.
Trong cuốn sách mới của ông ĐMT, Thông Điệp của Hòa Thượng
Huyền Quang dài hơn 8 trang giấy, gồm có 42 đoạn, có đoạn ngắn, có đoạn
dài, đánh số từ 1 tới 42. Trong số 42 đoạn này, chỉ có 4 đoạn, số
(3), số (5), số (17), và số (23), tổng cộng chưa tới 1 trang giấy, là nhắc
đến những sự kiện lịch sử (historical facts) liên quan đến những sắc
thái đặc thù của Ki Tô giáo mà không đi vào chi tiết. Để cho vấn đề
được rõ ràng, tôi xin trích dẫn từ những đoạn trên những sự kiện lịch
sử được nêu: Đoạn (3) dài hơn 8 dòng trong đó có 4 dòng đưa ra nhận
định: "Đó là hai thiên niên kỷ mà những tham vọng vô minh, vị kỷ
của con người đã nhân danh chân lý mặc khải, đặt ra những giá trị thần
quyền làm chuẩn mực cho sự sống, đồng thời thiết lập chế độ nô lệ
và những tòa án dị giáo, tạo nên sự phân chia giai cấp trầm trọng
trong xã hội và hợp lý hóa những áp bức bất công bạo ngược của con
người đối với con người."; đoạn (5) cũng dài hơn 8 dòng trong
đó chỉ có một câu "chân lý mặc khải, đã từng được bảo vệ
bằng quyền lực và bạo lực, nay chỉ còn là những giá trị ước lệ";
đoạn (17) dài hơn 12 dòng trong đó có câu "Sự khác biệt về tầng
bậc xã hội không phải do định mệnh thiên khải mà do quá trình phân
công xã hội. Vua không phải là người được đặt lên ghế thống trị
do ý muốn của Thượng đế"; và đoạn (23) dài hơn 12 dòng trong đó
cũng chỉ có một câu ngắn "Vào lúc mà phần lớn phương Tây đang
đắm chìm trong bóng tối Trung Cổ, với những pháp đình tôn giáo phi
nhân, với quyền lực của các lãnh chúa đối với các thần dân được
thi hành như là quyền lực vô nhân, đất nước Việt Nam đã bước vào thời
kỳ độc lập..", và tất cả chỉ có thế. Phần còn lại của bản
văn, như trên đã nói, chỉ là những nhận định tổng quát về xã hội
loài người, đôi chút về lịch sử Phật Giáo Việt Nam và tinh thần Phật
Giáo, lên án các chế độ độc tài chuyên trị trái với ước vọng của
toàn dân. Bản văn kết thúc bằng đoạn (42): "Đón mừng Phật Đản,
Phật tử Việt Nam cũng hoan hỉ đón chào thế kỷ XXI với tinh thần khoan
dung, bi mẫn mà Đức Thế Tôn đã truyền dạy và thể hiện. Cầu mong tất
cả các tôn giáo trên hoàn vũ, các hệ tư tưởng dị biệt, đều được
phát triển như ý, chung hòa trong tâm nguyện và phát huy trọn vẹn tiềm năng
giáo hóa của mình, để cho loài người bước lên cõi chí thiện."
Vậy mà ông ĐMT cho rằng thông điệp đó là một sự lầm
lẫn vì nhằm tấn công giáo hội Gia Tô. Tôi cho rằng ông ĐMT có cái
"mặc cảm Gia Tô", bị ám ảnh bởi những sự kiện lịch sử
không mấy tốt đẹp liên hệ đến Gia Tô Giáo, luôn luôn tìm cách bảo vệ
những cái không đáng bảo vệ, và nhất là cứ "giậm chân tại chỗ"
trong khi thế giới đã tiến xa về phương diện trí thức. Mục đích
chính của ông ĐMT là công kích Phật Giáo bằng ngụy biện và xuyên tạc
kể cả chụp mũ, cách thức quen thuộc của những tín đồ Gia Tô cuồng
tín. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể phê bình cả cuốn sách trong một bài phỏng
vấn. Sau đây tôi chỉ lướt qua vài điểm để chúng ta thấy rõ trình độ
kiến thức và con người của ông ĐMT:
1. Phê bình đoạn (1) trong bản thông điệp: "Thế giới
đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI, khép lại hai thiên niên
đầy (biến cố gây) ấn tượng và biến động do chính con người gây ra
trong chuỗi dài tiến hóa của nhân loại." ông ĐMT đặt 2 câu hỏi:
"Con người có là chủ thể độc nhất của lịch sử không?" Và,
"Lịch sử có thật sự là một chuỗi dài tiến hóa không?" Rồi
ông phang một câu: "Những câu hỏi đó không có câu trả lời tất yếu.
Một bản văn mệnh danh Thông Điệp mà ngay từ những dòng đầu ngôn ngữ
đã không chỉnh, nội dung lại khẳng định như những sự thực hiển nhiên
hai luận điểm triết học không tất yếu. Rõ ràng người viết không đắn
đo khi cầm bút."
Ông ĐMT đặt 2 câu hỏi hoàn toàn sai. Chuỗi dài tiến hóa
của loài người không phải là một luận điểm triết học mà là một sự
kiện khoa học (scientific fact) đã được chứng minh trong nhiều bộ môn của
khoa học như Nhân Chủng Học, Cổ Sinh Vật Học, Hóa Học, Sinh Học, Sinh
Hóa Học, Vũ Trụ Học v..v.. Chính giáo hoàng John Paul II cũng phải chấp nhận
sự kiện này qua lời tuyên bố: "Thân xác con người có thể không phải
là do sự sáng tạo tức thời của Thần KiTô, mà là kết quả của một
quá trình tiến hóa dần dần. Những kiến thức mới nhất dẫn chúng ta đến
việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn chỉ là một giả thuyết."
(The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a
gradual process of evolution. Fresh knowledge leads to recognition of the theory of
evolution as more than just a hypothesis). Và Linh mục Ernie Bringas đã phải đặt
bút viết trong cuốn Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical
Authority, trang 63, như sau: "Thuyết Tiến Hóa, cũng như thuyết Tương Đối,
không còn là một thuyết theo nghĩa phổ thông, mà là một nguyên lý khoa học
đặt nền tảng trên rất nhiều bằng chứng không phải bàn cãi nữa"
(The theory of evolution, like the theory of relativity, is no longer a "theory"
in the popular sense, but a scientific principle based on considerable, indisputable
evidence.) và "Thuyết tiến hóa là một trong những cấu trúc thành quả
và tuyệt diệu nhất của tư tưởng nhân loại. Hầu hết các học giả
nghiên cứu Thánh Kinh và các khoa học gia đều cảm thấy ngỡ ngàng và
quan tâm đến mức độ thiếu hiểu biết và thông tin sai lầm liên hệ đến
chủ đề Sáng Tạo, nhất là vì những người tin thuyết sáng tạo vẫn tiếp
tục tìm cách hợp thức hóa những khái niệm tôn giáo của họ vào trong
giáo dục thế tục" (The theory of evolution is among the most elegant and
fruitful structures of human thought. Most Bible scholars and scientists are perplexed and
concerned about the vast amount of ignorance and misinformation surrouding the creation
issue, especially since creationists contitnually seek to legislate their religious
notions into secular education). Giám mục John Shelby Spong cũng viết trong cuốn
Why Christianity Must Change or Die, trang 36, như sau: "Năm 1859 đại tác phẩm
Nguồn Gốc Các Chủng Loại của Darwin đã được xuất bản. Cuốn sách đó
đã làm cho hầu hết những nguyên lý còn lại ngày nay từ đó sự sống của
nhân loại được hiểu theo ý nghĩa tôn giáo tan thành mây khói. Cái vật kỳ
cục gọi là "khoa học sáng tạo" không gì khác hơn là những lời
huênh hoang ngu đần phản ánh một tâm cảnh tôn giáo sợ hãi đang chết dần"
(In 1859 Darwin's masterpiece, entitled The Origin of Species, was published. That book
caused most of the remaining principles by which human life was understood in religious
terms to go up in smoke.. That strange thing called "creation science" is
nothing more than ignorant rantings reflecting a frightened and dying religious
mentality). Ngoài ra, con người không là chủ thể độc nhất của lịch sử
loài người thì cái gì là chủ thể? Thần Ki Tô (Christian God) chăng? Rất
có thể, vì đối với ông ĐMT, Thiên Chúa của ông ắt phải là chủ thể
qua câu ông viết trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng: "Thiên Chúa dẫn dắt
lịch sử và dù sao đi nữa, lịch sử vẫn dẫn tới Thiên Chúa." Tôi
đã từng phê bình câu trên như sau: nếu có một Thiên Chúa mà dẫn dắt lịch
sử với những cuộc chiến tranh triền miên, với lò sát sinh của Đức Quốc
Xã, với bao thảm cảnh mà con người phải gánh chịu, với bao bệnh tật
và khuyết tật cả nơi những trẻ sơ sinh, thì thà không có Thiên Chúa đó
còn hơn. Mặt khác, lịch sử mà dẫn tới Thiên Chúa là lịch sử của một
thời đại man rợ và đen tối trí thức (the ages of barbarism and intellectual
darkness), khi đó Âu Châu chìm đắm trong sự đen tối trí thức chưa từng
thấy: đó là khi mọi người bắt buộc phải tin vào một Thiên Chúa và thờ
phụng Thiên Chúa, phải được dẫn tới Thiên Chúa bằng bắt bớ, giam cầm,
tra tấn và thiêu sống.
Dựa trên một kiến thức lạc hậu và một niềm tin đã lỗi
thời để phê bình một nhận định chính xác phù hợp với sự tiến bộ
trí thức của nhân loại trong bản thông điệp, ông ĐMT đã cho độc giả
thấy rõ trình độ và con người thực của ông.
2. Phê bình câu "thiết lập tòa án dị giáo" trong
đoạn (3) của bản thông điệp, ông ĐMT bào chữa cho giáo hội Gia Tô như
sau: "Ai cũng biết: tòa án dị giáo là một vết đen trong lịch sử giáo
hội Công giáo. Chấm hết. Nhưng, tòa án dị giáo không chỉ nhằm vào bảo
vệ đức tin. Nó còn là công cụ của chính quyền dùng để đàn áp những
thiểu số (như triều đình Tây ban Nha đối với người Maures và người
Do Thái hồi thế kỷ 16) và tất cả những cá nhân hay phong trào có khả năng
ra ngoài những khuôn phép, luật lệ hiện hành"
Tôi không thể tưởng tượng được là một giáo sư nổi
tiếng là rất trí thức và uyên bác trong cộng đồng Gia Tô hải ngoại lại
có thể viết một câu như trên. Phải chăng ông ĐMT cố tình quên đi hay
không biết đến những sự kiện lịch sử là giáo hoàng Innocent III, ngay từ
thế kỷ 12 đã ra lệnh cho các thuộc hạ trong giáo hội phải truy tố và
bạo hành những người mà giáo hội cho là dị giáo, rồi giáo hoàng
Gregory IX ký sắc lệnh thiết lập những Tòa Hình Án xử Dị Giáo vào thế
kỷ 13 và sau đó, giáo hoàng Innocent IV ký sắc lệnh cho phép những Tòa
Hình Án dùng cực hình tra khảo để lấy những lời "thú tội" của
những người mà giáo hội kết án là lạc đạo hay dị giáo. Ông ĐMT củng
cố tình quên đi hay không biết đến, trong thời gian dài trải qua nhiều
thế kỷ của những tòa án dị giáo, thần quyền tự phong của giáo hội
Gia Tô đứng trên thế quyền, và các nạn nhân đều bị đưa ra tòa án dị
giáo của giáo hội xét xử, tra tấn cực hình để bắt các nạn nhân
"thú tội", kết án rồi kết thúc bằng một lễ công cộng gọi
là auto de fé trong đó phán quan, thường là một chức sắc trong giáo hội
như giám mục, tổng giám mục v..v.. tuyên án, bắt mọi người tham dự phải
thề trung thành với cây thập giá, với giáo hội, và phải tố cáo những
kẻ dị giáo, rồi sau đó trao cho thế quyền thi hành lệnh án của giáo hội,
nghĩa là mang nạn nhân đi thiêu sống. Và như vậy là để bảo vệ đức
tin? Rõ ràng là ông chỉ nhắc lại những lời bào chữa của giáo hội
nhét vào đầu óc vốn đã mất đi khả năng suy nghĩ của những tín đồ
Gia Tô.
Jean Plaidy viết trong cuốn The Spanish Inquisition, trang 19:
"Có thể có một số người tin rằng mình đã tuân theo ý Chúa để dùng
cực hình tra tấn đồng loại làm cho sự sợ hãi lan tràn khắp đất nước;
nhưng nếu chúng ta tha thứ cho họ về cái đầu óc thô thiển của họ,
chúng ta phải lên án cái sự kiêu hãnh ngu đần của họ, vì bạo hành những
người không suy tư như mình chính là đỉnh cao của sự ngu đần; và khi sự
bạo hành lại là vấn đề "đức tin" thì sự lên án phải tăng gấp
đôi." (There may have been some who believed that they were obeying the Divine Will
by spreading fear throughout the land and torturing their fellow men; but if we excuse
these men their simple-mindedness, we must condemn their stupid arrogance, for it is
surely the height of stupidity to persecute those who do not think as ourselves; and when
it is a matter of "Faith", surely the condemnation is doubly arrogant.)
Tại sao đến thời buổi này mà ông ĐMT còn cho rằng những
tòa hình án xử dị giáo là để bảo vệ đức tin và phần lớn do các
chính quyền dân sự? Ngụy biện, bào chữa cho tội ác của giáo hội Gia
Tô có làm cho bộ mặt của giáo hội trở nên thánh thiện hơn không?
3. Phê bình một câu trong đoạn (5) của bản thông điệp,
ông ĐMT viết: "Theo tác giả thông điệp, thiên nhiên chỉ là "khối
ngưng kết nhất thời trong chu kỳ vô tận." Đó là một quan niệm đáng
nể. Nhưng khoa học nói gì? Hiện nay, đại đa số các nhà khoa học cho rằng
vũ trụ mà khoa học quan sát được luôn luôn bành trướng, và sự bành trướng
này khởi đầu từ điểm big bang." Ông ĐMT cho rằng linh mục Lemaitre là
"người xướng ra thuyết vũ trụ bành trướng (théorie de l'expansion de
l'universe)" và ông viết tiếp: "Thế giới mà khoa học biết đã
được khởi đầu cách đây 15 tỷ năm và càng ngày càng loãng ra và lan rộng.
Nhưng trước big bang, trước khi khởi đầu thì sao? …"
Có 3 điểm sai lầm trong vài câu ngắn ngủi trên. Thứ nhất,
big bang không chỉ là nguồn gốc của vũ trụ theo quan niệm của đa số
khoa học gia mà đó là một sự kiện khoa học đã được kiểm chứng. Tòa
Thánh Vatican cũng đã công nhận thuyết big bang, giáo hoàng chỉ vớt vát bằng
1 câu hoàn toàn vô nghĩa: "đừng có tìm hiểu ngay chính lúc big bang vì
đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm sáng tạo của Thần Ki Tô".
Thứ nhì, George E
uard
Lemaitre tuy là một linh mục nhưng chưa bao giờ hành nghề linh mục mà trong
suốt cuộc đời, hoạt động trong lãnh vực khoa học như một khoa học
gia. Và người xướng ra thuyết vũ trụ bành trướng không phải là
Lemaitre. Người kiếm ra bằng chứng về một vũ trụ bành trướng là Edwin
Hubbard và các đồng nghiệp của ông ta vào đầu thập niên 1920. Năm 1927
Lemaitre đưa ra một giải đáp cho những phương trình về thuyết Tương Đối
của Einstein để mô tả sự bành trướng của vũ trụ. Giải đáp này đã
được Aleksandr Friedmann kiếm ra trước đó mấy năm nhưng Lemaitre không biết
đến. Mãi tới năm 1946 Lemaitre mới đưa ra mô hình đầu tiên làm căn bản
cho sự bành trướng của vũ trụ: do sự nổ bùng của một Nguyên Tử Đầu
Tiên (primal atom), có tên quen thuộc là cái Trứng Vũ Trụ (cosmic egg), lớn
khoảng gấp 30 lần mặt trời, và cách đây từ 20 tới 60 tỷ năm. Mô
hình này đúng về ý tưởng nhưng không đúng về vật lý vì Lemaitre không
áp dụng phương trình của Einstein, đưa đến tận cùng. Ngày nay, quan niệm
chung là big bang phát xuất từ một dị điểm (singularity) vô cùng nhỏ, vô
cùng nóng và vô cùng đặc. Thứ ba, đối với các khoa học gia thì câu hỏi
"trước big bang thì sao?" vô nghĩa, vì quan niệm về thời gian và
không gian mà chúng ta hiểu ngày nay sinh ra cùng với big bang, cho nên không
có cái gì có thể gọi là trước big bang hay ngoài big bang.
Cũng trong đoạn (5), phê bình câu "Chân lý mặc khải,
đã từng được bảo vệ bằng quyền lực và bạo lực, nay chỉ còn là
những giá trị ước lệ" ông ĐMT viết như sau: "Dĩ nhiên, tác giả
có quyền phủ định chân lý mặc khải. Nhưng viết như thế có còn là phủ
định hay đả kích? Phủ định trong một văn bản như thế đã là thiếu
thân thiện. Huống chi đả kích". Với "mặc cảm Gia Tô", ông
ĐMT cho rằng câu trên là để đả kích "chân lý mặc khải". Nhưng
thực ra, câu trên cũng chỉ là một nhận định lịch sử rất sát với thực
tế và rất súc tích trong ý tưởng. Một chân lý mà phải bảo vệ bằng
quyền lực và bạo lực thì thực chất không phải là một chân lý, dù đó
là chân lý mặc khải. Chân lý phải có tính phổ quát, nghĩa là đúng
trong mọi thời đại, mọi nơi, và được tất cả mọi người chấp nhận.
Mặc khải có hội đủ những điều kiện này hay không? Đã một thời,
"chân lý mặc khải" bắt mọi người phải tin rằng trái đất thì
phẳng và dẹt, là trung tâm của vũ trụ, và mặt trời quay xung quanh trái
đất. Chân lý mặc khải cũng dạy tín đồ là Thần Ki Tô mới "sáng
tạo" ra vũ trụ này cách đây khoảng 6000 năm và Thần có thể tạo ra
"người đầu tiên" từ đất sét trong đó không có chất hữu cơ.
Quyền lực và bạo lực đã được sử dụng để ép buộc
đầu óc con người phải chấp nhận những "chân lý mặc khải"
trên nhưng đã thất bại, và ngày nay, quyền lực và bạo lực không còn sử
dụng được nữa, và trước những bằng chứng khoa học mà Vatican cũng phải
chấp nhận, nên cái gọi là "chân lý mặc khải" chỉ còn những
giá trị ước lệ. Đó là ý tưởng của câu trên trong bản thông điệp.
Ở đây, không có vấn đề phủ định hay đả kích, chỉ có sự thực lịch
sử. Ông ĐMT bất chấp sự thực lịch sử, xuyên tạc tác giả bản thông
điệp là phủ định và đả kích "chân lý mặc khải" của ông,
và như vậy là thiếu thân thiện với giáo hội Gia Tô. Ông muốn bảo vệ
cho cái "chân lý mặc khải" của ông nhưng không đủ kiến thức.
Tôi nghĩ, vài điểm phân tích trên cũng đủ cho chúng ta thấy
thực chất con người của ông ĐMT. Nhưng để bổ túc cho sự phân tích mấy
điểm trên, có lẽ tôi nên bàn qua 2 quan điểm của ông ĐMT trong bài phỏng
vấn của Thế Kỷ 21:
1. "Theo tôi nghĩ, Đức Ki Tô đến rao giảng một Thiên
Chúa không biên giới, không bờ bến. Không phải Do Thái, cũng không phải
là Roma, không phải Á Đông, cũng chẳng phải Tây phương… Nếu đọc Phúc
Âm cho kỹ thì Đức Giê-su đến để nâng cao con người. Mà con người là…con
người, có vậy thôi…Và đã là người thì phải tuyệt đối tôn trọng.."
2. "Tôi hoàn toàn đồng ý với hồng y Ratzinger về điểm
Đức Ki Tô đã đem tới, đã rao giảng một Tin mừng, một Tin vui. Tin vui
tình thương, Tin vui ánh sáng, tin vui tự do."
Tôi có thể khẳng định là ông ĐMT chưa bao giờ đọc kỹ
PhúcÂmvà tôi tin rằng, ông chỉ nhắc lại những điều mà giáo hội hay
ông linh mục xứ dạy ông từ khi còn nhỏ. Bởi vì, nếu ông đọc kỹ PhúcÂmthì
ông phải biết rằng Giêsu tự nhận là con của Thần Gia-vê của dân Do
Thái, xuống trần chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi, và coi những người
khác Do Thái là chó. Và tin mừng, tin vui của Giêsu đã mang tới những kết
quả gì cho nhân loại? Thánh chiến, tòa án dị giáo, phá hủy tượng thờ
của các tôn giáo khác, đồng lõa với thực dân đi xâm lăng để truyền
đạo v..v..? Tin vui tự do cho ai? Cho những người không tin Giê-su? Mở Tân
Ước ra mà đọc thì sẽ thấy tất cả các giải đáp, và không có giải
đáp nào phù hợp với quan điểm của ông ĐMT.
Tôi không muốn lôi những giải đáp trên từ Thánh Kinh ra,
để cho ông ĐMT tìm lấy mà đọc. Ở đây tôi chỉ nêu lên 3 nhận định
của một giám mục, một học giả Gia Tô và một nhà tư tưởng tự do
(free thinker):
a. Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn Hãy Cứu Cuốn
Thánh Kinh Ra Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing The Bible From Fundamentalism), trang
21: "Có những đoạn trong 4 PhúcÂmmô tả Giê-su như là một con người
thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả." (There are
passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrowed-minded, vindictive, and
even hypocritical).
b. Học giả Gia Tô David Voas, giáo sư đại học bang New
Mexico, viết trong cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước (The Bad
News Bible: The New Testament), trang 1-2: "Vấn đề là người ta nghĩ rằng
người ta biết ở trong Thánh Kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh
Kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với
vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngạc
nhiên khi thấy không những Thiên Chúa trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ
như thế nào, mà con của hắn (Giêsu) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức
hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giêsu không hẳn toàn là tin mừng, thiên
đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ
thì đó rất có thể là cuốn Thánh Kinh mang tới tin xấu." (The problem
is that people think they know what's in the Bible, or at least what kind of material it
contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved
extracts, and are atonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at
how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn't all good
news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be the
Bad News Bible.)
c. Trong cuốn "Ingersoll: The Magnificent" do Joseph Lewis
xuất bản, Robert G. Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của
Mỹ, đã viết, trang 119: "Nhân danh chúa Ki Tô, hàng triệu nam nữ đã bị
tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ.
Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ
tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người
thông thái, giỏi nhất. Nhân danh hắn, sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị
chặn đứng cả ngàn năm. Trong Phúc Âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý
về sự đau khổ vĩnh viễn (đày hỏa ngục. TCN), và những lời của hắn
đã thêm vào sự chết sự kinh khủng vô tận. Phúc Âm của hắn chất đầy
thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một
tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố
cáo tình yêu thương như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ
dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người. Nhân
loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra -
chúa Ki Tô theo quan niệm thần học chưa từng được sinh ra." (In Christ
name millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name
millions and millions have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators,
have been branded criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the
best. In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his
gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to
death. His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a
crime,, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial,
canonozed credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man. It would be far
better had the New Testament never been written - far better had the theological Christ
never lived.)
Tôi không hiểu ông ĐMT đã đọc Phúc Âm kỹ tới mức
nào mà lại khẳng định rằng "Đức Giê-su đến để nâng cao con người"
và "Đức Ki Tô đã đem tới, đã rao giảng một Tin mừng, một Tin vui.
Tin vui tình thương, Tin vui ánh sáng, tin vui tự do.", trái ngược hẳn với
những tài liệu trên. Tôi nghĩ không cần phải phê bình ông ĐMT thêm gì
khác nữa.
GĐ: Xin cám ơn giáo sư đã để thì giờ trả lời cuộc
phỏng vấn bằng điện thư này.