| .......... |
. |
- ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH
- Mật Nghiêm
Năm 917 (sau Công nguyên) Đạt
Ma Tổ Sư từ Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại
Trung Sơn - Hà Nam - Trung Quốc. Xây dựng chùa Thiếu Lâm. Có nhiều đệ tử
nhập môn học Phật để mai sau đi truyền giáo nay đem một tín ngưỡng mới
đi tuyên truyền, có khi trái với tín ngưỡng cũ nhân dân đỡ xảy ra xung
đột nên cho đệ tử Chùa Thiếu Lâm vừa học lý thuyết Phật giáo, vừa
phải luyện võ để tự vệ (một phái võ Thiếu Lâm vẫn tồn tại đến
ngày nay).
Nhiều người xin nhập môn, nhưng thể lực kém không luyện
võ được. Tổ sư truyền dạy một phương pháp luyện tập tên gọi là "Đạt
Ma Dịch Cân Kinh" để chuyển biến thể lực của các đệ tử từ
yếu thành khỏe.
Cách tập đơn giản, nhưng hiệu lực lớn, vì tiêu trừ
được bệnh. Yếu thì không chứng nọ cũng tật kia, khỏe là đã hết bệnh.
Ngày nay, người ta nghiên cứu lại phương pháp này chữa
được rất nhiều bệnh, ngay cả bệnh ung thư cũng khỏi. Và bây giờ người
ta lại áp dụng lý thuyết "khí huyết" của Đông y để chứng
minh.
Tình trạng sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với
"khí huyết" của họ. Về "huyết" thì rất rõ ràng và dễ
hiểu vì ta nhìn thấy được.
Nhưng trong Đông y: cái gọi là "huyết" thì chúng
ta không thể tách rời và hạn chế từng mặt. Nếu như máu loãng hay đặc,
hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào... để mà nghiên cứu. Họ
dùng cách nhìn toàn diện của quá trình sinh lý và quá rình tuần hoàn của
huyết mà xem xét.
Lý luận Đông y có triết lý vững vàng. Nó mang tính chất
khái quát rất cao, khi nó nêu vấn đề "khí huyết" thì tất nhiên
không cô lập, như lấy một giọt máu không sức sống hoặc một bầu máu
tách rời cơ thể, mà là cần phân tích đến trạng thái vận động, quá
trình sinh lý và các mối quan hệ khác.
Vì "khí" cũng vậy, hào khí (là khí của người hào
hiệp) không hề lay động khi đã quyết định, người xem tướng giỏi là
người ranh xem khí. Sắc là do thiên vị "khí" (prana) có trong khí
trời, vị không rải ra khắp cơ thể được nên mới sinh bệnh.
Cho nên các "khí" của Đông y không bác bỏ cái
khí trong không khí mà nó mang lại một nội dung có tính khái quát rộng lớn
hơn.
- Ta thở không khí vào phổi, ăn vào bụng, ruột hấp thu chất dinh dưỡng,
các chất ấy và không khí được đưa đến các tế bào của toàn thân,
để có được oxy hóa và sinh ra nhiệt năng, đồng thời cũng đưa những
khí thải và thức ăn từ các tế bào trên cơ thể, thu hồi về để bài
tiết ra ngoài.
- Tuần hoàn tốt, phát huy tác dụng tốt của máy, thì quá trình sinh lý của
cơ thể con người tự nhiên thịnh vượng ra, sinh hoạt sức khỏe của con
người đương nhiên đảm bảo.
Cho nên trong lý thuyết "khí huyết" không thể đơn
độc chỉ có "huyết mà không có "khí" và ngược lại chỉ có
"khí" mà không có "huyết".
- Trong Đông y cho rằng máu thuần chủ yếu trong cơ thể con người là
"Âm-Dương" mà cũng là "khí huyết" (Âm là khí và Dương là
máu).
Luyện "Dịch Cân Kinh" làm cho khí huyết hoạt động
điều hòa nên nó có tác dụng chữa bệnh tốt.
Áp dụng "Dịch Cân Kinh" để chữa ung thư. Người
xưa dùng "Dương tâm đan" kết hợp với luyện "Dịch Cân
Kinh" để chữa khỏi hẳn bệnh ung thư. Tác dụng của thuốc là rút
ngắn thời gian điều trị, chứ nó không có tác dụng chữa bệnh, nói như
người xưa là "Mạch máu chia đi"
Trong một đơn vị quân đội chẳng hạn, cùng sinh hoạt như
nhau, sau một bữa ăn lạ, có người đau bụng đi kiết, đi tả, nhưng
cũng có người chẳng bị làm sao. Đây là "Mạch máu chia đi" nên
nó giúp cơ thể thải độc tốt. Vậy luyện tập "Dịch Cân Kinh"
là chính. Nay ta phân tích bệnh ung thư là gì? Người xưa quan niệm ung nhọt
chia ra hai loại: "Âm thư và Dương thư" và có câu:
"Dương thư dễ lành, Âm thư khó trị"
Dương thư thì ai cũng biết là cái nhọt mọc ra ngoài,
chín rồi vỡ, có máu mủ, và ngòi mủ xanh, dán cao là lành. Âm thư là
cái nhọt mọc bên trong cơ thể, không có đầu, không vỡ, chỉ to dần rồi
lan tràn, có khi rắn như đá gọi là thạch thư. Nguyên nhân đều do kết tụ
của khí huyết làm trở tắc kinh lạc mà các phế vật cần thải, không
thải được. Vì máu lưu thông chậm nên các chất keo, dịch gan, các chất
làm khô... do không đủ nhiệt năng, nên công năng của máy giảm sút không
thể thải được các chất không cần thiết cho cơ thể ra ngoài.
Luyện "Dịch Cân Kinh" tay vẫy đúng pháp, miệng dạ
dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ. Các sự chèn ép làm mất
thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ, nên mới khỏi bệnh.
Vẫy tay theo "Dịch Cân Kinh" cơ hoành lên xuống dễ
dàng, ruột và dạ dày tiếp được thêm khí nên cũng gây nên tác dụng hưng
phấn, và khi chức năng của máu tăng lên thì giúp cho việc "tống cựu
nghinh tân" được tốt, "khí huyết" thăng bằng, là đã khỏi
bệnh.
Theo số liệu thống kê: Cụ Quốc Chu 70 tuổi, phát hiện u
ác ở não và ở phổi, được phổ biến "Dịch Cân Kinh" và luyện
ngày một buổi, mỗi tối 2.160 lần. Sau 5 tháng thì hết và khỏi bệnh.
Ông Trương Công Phát, 46 tuổi, phát hiện ung thư máu, tập
ngày 3 buổi, mỗi buổi vẫy tay 1.800 lần (có dùng thuốc Dương tâm
đan...), sau 3 tháng đã đi làm. Đã ba năm vẫn khỏe mạnh.
Cụ Từ Mạc Đính, 80 tuổi, bị ung thư phổi kiêm bán
thân bất toại, tập 5 tháng khỏi bán thân bất toại, kiểm tra lại thì
khối ung thư phổi cũng biến luôn.
Nguyên nhân bệnh ung thư hiện nay trên thế giới còn đang
bàn cãi, ngay cả thuốc "Dương tâm đan" cũng không phải là thuốc
đặc hiệu chữ ung thư, mà là giúp tim hoạt động tốt hơn, để thải chất
độc trong cơ thể của bệnh nhân nhanh hơn mà thôi.
Nhưng về nguyên nhân ung thư thì thuyết "khí huyết"
của Đông y đã lập luận rõ ràng. Vì quá trình sinh lý của con người là
một quá trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh phức tạp. Giữa
cái sống và cái chết, giữa ốm đau và mạnh khỏe, giữa già sớm và trẻ
dài. Nhưng kết quả của cuộc đấu tranh là do nhân tố nói tại quyết định,
chứ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
Nên xem cơ thể con người là một chính thể vận động.
Trong vận động này có lục phủ, ngũ tạng đều dựa vào
nhau (tức là tương sinh), ức chế lẫn nhau (tức là tương khắc), nhưng
"khí huyết" có tác dụng đến tất cả lục phủ ngũ tạng, cho nên
việc phát sinh bệnh ung thư cũng do "khí huyết" không chu đáo mà
sinh ra. Đông y đã xác định rằng cuộc đấu tranh của cơ thể với bệnh
ung thư là cuộc đấu tranh trong nội bộ cơ thể con người, từ đó mà
xây dựng quan điểm cho rằng bệnh ung thư là thứ bệnh chữa được.
Đương nhiên bệnh tật do sự trì trệ "khí huyết"
mà ra, nó lại làm hao tổn thêm "khí huyết". Việc tập luyện làm
cho khí huyết thay đổi để tự chữa bệnh là thế.
Từ đó mà xây dựng được lòng tin vững chắc của người
bệnh, đối với việc tự chữa bệnh ung thư, để tập trung tinh thần và
ý chí đầy đủ để luyện tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh". Bởi phương
pháp này thay đổi và tăng cường "khí huyết", vì thế nó trị
được "trĩ nội", "trĩ ngoại". Ông Hồ Thức Nguyên bị
trĩ nội và đau đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi. Trước đây mỗi
lần ông ngồi xổm là đom bị lòi ra. Chỉ sau một tháng luyện tập là
đom hết lòi, mà bệnh đau bụng cũng mất.
Tập "Dịch Cân Kinh" thấy ăn tốt ngủ ngon, đấy
là việc phổ biến, nên đã làm tăng sức khỏe cho các bệnh nhân nói
chung.
Và chữa khá nhiều bệnh như:
- Suy nhược thần kinh.
- Huyết áp cao.
- Bệnh tim các loại.
- Bệnh thân.
- Bán thân bất toại.
- Trúng gió, méo mồm, lệch mắt.
- Hen suyễn.
- Thậm chí dứt bệnh ác hiểm là bệnh ung thư cũng khỏi
Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bệnh tật con người
là do "khí huyết" (Âm-Dương) mất thăng bằng mà sinh ra. "Đạt
Ma Dịch Cân Kinh" giải quyết được vấn đề này, nên đối với đa
số các loại bệnh, nhất là bệnh mãn tính đều có thể chữa được cả.
- PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP
"ĐẠT MA DỊCH CÂN KINH"
Trước tiên
nói về tư tưởng
Phải có hào khí: nghĩa là phải
có quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, phải vững vàng tin tưởng,
không nghe lời bàn ra nói vào mà chán nản bỏ dở.
Phải lạc quan: không lo sợ vì bệnh mà mọi người cho là
hiểm nghèo, và tươi tỉnh tin rằng mình sẽ thắng bệnh do luyện tập.
Tư thế: "Trên không dưới có, trên ba dưới bảy".
Trên phải không, dưới nên có, đầu nên lơ lửng, miệng
không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo,
cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại
phía sau, ngón xòe như cái quạt. Vẫy, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót,
gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bấm
chặt như đứng trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các
yêu cầu khi luyện "Đạt Ma Dịch Cân Kinh".
Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành
trở lên, phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu
không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc tập, xương cổ cần buông
lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự nhiên
(không mím, môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh
tay buông tự nhiên, giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở
xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thót vào, hậu môn
nhích lên, mười ngón chân bấm chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp
chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng như cây gỗ.
Khi vẫy tay cẩn nhớ "lên không xuống có", nghĩa là
lấy sức vẫy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán
tính, không dùng sức đưa ra phía trước.
"Trên ba dưới bảy" là phần trên để lỏng chỉ
độ ba phần khí lực, phần dưới lấy gắng sức tới bảy phần thể lực,
vấn đề này phải quán triệt đầy đủ thì hiệu quả rất tốt.
Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi gì, chỉ nhẩm đếm
lần vẫy tay.
Các bước tập
cụ thể như sau
Hai bàn chân để xích ra bằng khoảng cách
của hai vai.
Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về
phía sau.
Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu miệng
trong trạng thái bình thường.
Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và
đùi căng thẳng.
Hai mắt chọn một điểm đàng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ
chú ý vào ngón chân bám đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
Dùng sức vẫy tay về phía sau, để hai tay trở hai phía trước theo quán
tính, tuyệt đối không dùng sức, chân vẫn lấy gân, hậu môn co lên
không lòi.
Vẫy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên tới 1.000 cái vẫy tay, ước chừng
30 phút.
Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần vẫy tay dần dần tăng lên
không miễn cưỡng vì "dục tốc bất đạt", nhưng cũng không tùy
tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ bệnh, vì thế dễ làm mất
lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.
Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng tận lực tàm tổn
thương các ngón chân (nên sau buổi tập vân vê các ngón chân, tay, mỗi
ngón chín lần). Nôn nóng mong muốn khỏi bênh ngay mà dùng quá sức cũng không
đưa lại kết quả mong muốn. Có quyết tâm, nhưng phải từ từ tiến lên
mới là đúng cách, sẽ thu được kết quả mỹ mãn.
Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán, thì
khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến "trên nhẹ dưới nặng"
là sai và hỏng.
Khi vẫy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung
tiện, hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng... đấy
là hiện tượng bình thường đừng ngại.
Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột
tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống
cho hợp với "trên nhẹ dưới nặng". Đây là quy luật của sinh
lý hợp với vũ trụ "thiên khinh địa trọng".
Bệnh gan: Do khí huyết, tạng gan không tốt gây nên
khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên là bệnh nan
y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện "Dịch Cân Kinh" có
thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả sớm.
Bệnh mắt: Luyện "Dịch Cân Kinh" có thể khỏi
đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí nó
chữa được cả bệnh đục thủy tinh thể (thông manh).
Trong nội kinh có nói "mắt nhờ huyết mà nhìn được",
khi khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì đương nhiên sinh ra
các bệnh của mắt. Con mắt là trong hệ thống của thị giác, nhưng cũng
là một bộ phận của cơ thể.
Những phản
ứng
Khi tập "Dịch Cân
Kinh" có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải bệnh không
đáng ngại. Xin liệt kể ra đây 34 phản ứng thông thường (còn những phản
ứng khác không kể hết được):
- Đau buốt.
- Tê dại.
- Lạnh.
- Nóng.
- Đầy hơi.
- Sưng.
- Ngứa.
- Ứa nước miếng.
- Ra mồ hôi.
- Có cảm giác như kiến bò, kiến cắn.
- Giật gân, giật thịt.
- Đau xương, có tiếng kêu lục cục.
- Có cảm giác máu chảy dồn dập.
- Lông, tóc dựng đứng.
- Âm nang to lên.
- Lưng đau.
- Máy mắt, mí mắt giật.
- Đầu nặng.
- Hơi thở ra nhiều, thở dốc.
- Hảo.
- Tăng tiện.
- Gót chân nhức nhối như măng mủ.
- Huyết áp biến đổi.
- Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.
- Da cứng và da dầy rụng đi (chai chân, mụn cóc
- Sắc mặt biến đổi.
- Đau mỏi toàn thân.
- Nôn mửa, ho.
- Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen.
- Tiểu tiện nhiều.
- Trên đỉnh đầu mọc mụn.
- Bệnh từ trong da thịt tiết ra.
- Ngứa từng chỗ hay toàn thân.
- Chảy máu cam.
Các phản ứng trên là do trọc khí trong người bị bài tiết
ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ứ đọng, tức tử bệnh tật.
Có phản ứng sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, ta vẫn
tập thì sẽ sản sinh ra chất bồi bổ có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta
luyện tập đúng phép là làm tăng mức đề kháng, thải cặn bã trong các
gân, thần kinh và cả tế bào khác mà máu bình thường không thải nổi.
Như luyện "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" khí huyết lưu thông mới thải
nổi các cặn bã ra nên sinh ra phản ứng. Vậy ta đừng sợ, cứ tiếp tục
tập như thường, hết một phản ứng là khỏi một căn bệnh, tập luyện
dần đưa lại kết quả tốt.
Luyện "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" đạt được bốn tiêu
chuẩn như sau:
Nội trung tố: tức là nâng cao can khí lên, là then chốt,
điều chỉnh tạng phủ, lưu thông khí huyết, thanh khí sẽ thông suốt lên
tới đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố: tức là tứ chi phối hợp với động
tác theo đúng nguyên tắc khi tập "Dịch Cân Kinh". Tứ trưởng tố
song song với Nội trung tố sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trọc khí
dằn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tâm phát: nghĩa là 5 trung tâm của huyệt dưới
đây hoạt động mạnh hơn mức bình thường:
- Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu.
- Lao cung: hai huyệt của hai gan bàn tay.
- Dũng Tuyền: hai huyệt ở hai gan bàn chân.
Khi luyện "Dịch Cân Kinh" năm huyệt này đều có
phản ứng và hoàn toàn thông suốt. Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt
tới hiệu quả phi thường, nó làm tăng cường thân thể tiêu trừ các bệnh
nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh: Lục phủ là ruột non, mật, dạ dày,
ruột già, bong bóng, tam tiêu.
Nghĩa là không trì trệ, lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp
thức ăn tiêu hóa và bài tiết được thuận lợi, xúc tiến các cơ năng
sinh sản, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể, tức là âm dương
thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.
Một số điểm cần chú ý
Số lần vẫy tay không nên ít: từ
600 lên dần tới 1.800 (30 phút) mới là toại nguyện cho việc điều điều
trị. Bệnh nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng phải nhớ
thót đít và bấm 10 đầu ngón chân.
Số buổi tập:
* Buổi sáng thanh lâm tập mạnh.
* Buổi chiều trước khi ăn tập vừa.
* Buổi tối trước khi ngủ tập nhẹ.
Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu? Ngưỡng cửa của sự chuyển
biến bệnh là 1.800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy tới 3.000-6.000. Nếu
sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều hòa, tinh thần
tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.
Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh,
bình thường vẫy chậm thì 1.800 cái hết 30 phút. Vẫy tay tới lúc nửa chừng
thường nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lục động của khí. Khi
mới vẫy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng,
người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều, người bệnh nặng
thì nên vẫy chậm và hẹp vòng.
Vẫy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mà vẫy chậm quá
thì không đạt tới mục đích, luyện tập là cần cho mạch máu lưu thông.
Vẫy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ? Vẫy tay là môn thể
dục chữa bệnh, chứ không phải là môn thể thao khác biệt. Đây là môn
thể dục mềm dẻo, đặc biệt của nó là dùng ý mà không dùng sức. Nhưng
nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh
thì lưng và ngực cũng không được chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm
đi.
Vẫy tay không phải chỉ chuyển động cánh tay mà phần
chính vẫn là chuyển động bắp vai.
Bệnh phong thấp thì nên dùng mức "nặng" một
chút. Bệnh huyết áp cao thì nên vẫy tay chậm và nhẹ.
Nói tóm lại: phần lớn phải tự mình nắm vững tình trạng,
phân tích những triệu chứng. Sau khi tập, nghe sự nhận xét của mọi người
xung quanh, thấy sự chuyển biến của mình, nhanh nhẹn hơn, tươi tỉnh hơn
hay là kém khi trước, rồi tự mình suy nghĩ và quyết định cách tập, rồi
luôn luôn tổng kết, trên nguyên tắc là tập thế nào cho người thấy thoải
mái và dễ chịu hơn là đúng, là tốt nhất.
Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích cho cơ thể,
động tác mạnh (nặng) là bả (loại bỏ các chất cặn bã có hại trong
người, tức là bệnh tật). Lý luận này cũng đang được nghiên cứu.
Mức độ vẫy tay: Chỉ vẫy tay về phía sau dùng sức 7 phần, không vẫy
về phía trước, mà do phản xạ của cánh tay cho là 3 phần.
Có cần đếm không? Đếm không phải chỉ để nhớ mà còn có tác dụng
làm cho óc được bình tĩnh, tim được trầm tĩnh, có tác dụng làm cho bộ
não được thăng bằng và nghỉ ngơi (và không được nghỉ ngơi lung tung).
Chính khí được bồi dưỡng.
Hoàn cảnh vẫy tay: Không có gì là đặc biệt về hoàn cảnh, tập
ở đâu cũng được, trong nhà, ngoài trời dĩ nhiên nơi nào có dưỡng khí
trong sạch và yên tĩnh vẫn tốt hơn.
Trước và sau khi tập: Trước khi tập nên đứng bình tĩnh cho tim được
thoải mái được yên tĩnh, để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý. Ta có
thể làm những động tác nhẹ nhàng thoải mái như trong môn "khí
công", đến khi tập cũng nên bình tĩnh mà vò 10 đầu ngón chân, 10 đầu
ngón tay. Những người không đủ bình tĩnh, cần chú ý tới điều này.
Tập "Dịch Cân Kinh" thế nào cho đúng? Sau khi tập cảm thấy
ngực và bụng nhẹ nhàng, dễ chịu, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước
miếng ứa ra, đại tiện nhuận, ăn ngon, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt
dần, thì đấy là tập đúng. Rất ít khi tập sai, tỉ lệ không tới 1%.
Sau khi tập đại đa số đều thấy có phản ứng, nhưng
về hiệu quả thì rất khác nhau, nguyên nhân chính là tư thế khi tập có
thích hợp với thể chất người tập hay không.
Lúc bắt đầu tập nên chú ý đến điểm nào?
Nửa thân trên buông lỏng thượng - hư.
Nửa thân dưới giữ chắc - hạ thực.
Tay ra phía trước không dùng lực (nhẹ).
Vẫy tay ra phía sau có dùng sức (nặng).
Tập đếm số tay vẫy ngày một tăng, ngày 3 buổi tập,
kiên quyết "tự chữa bệnh cho mình".
Trạng thái tinh thần lúc tập: có liên quan gì đến hiệu quả không?
* Hết lòng tin tưởng.
* Kiên quyết tới cùng.
* Tập đủ số nhất định, tập thường xuyên. Có thể
hiệu quả rất lớn.
Nếu khi tập, khi nghỉ không đủ số nhất định. Lòng
còn nghi hoặc. Còn bị động dư luận ngoài. Thấy phản ứng đã lo sợ, bỏ
tập. Hỏi làm gì có kết quả tốt.
Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không? Có thể bệnh do tư thế không đúng
và làm sai nguyên tắc, những trường hợp ấy cũng hạn hữu, như trên đã
nói, không tới một phần trăm.
Khi tập có phải kiêng gió, kiêng lạnh không? Tránh gió lùa, mùa hè
hay mùa đông đều tránh đứng đầu ngọn gió.
Tóm lại có mấy điều cần lưu tâm:
- Khi tập luôn luôn bấm mấy ngón chân, thót lỗ đít, để giữ tư thế
"thượng hư – hạ thực".
- Vẫy tay từ ít tới nhiều phải đạt tới 1.800 cái trở lên mới có hiệu
quả.
- Có phản ứng đừng ngại mà ngừng tập, vì đó là diễn biến tốt, cứ
tập số đếm như cũ, qua phản ứng, sẽ tăng số lần vẫy tay lên.
- Kiên trì, quyết tâm luyện tập, tin tưởng "các bệnh tật sẽ khỏi".
- Vững lập trường, không hoang mang vì dư luận, lạc quan với cuộc sống.
Chỉ cần niềm tin bằng hạt cải là có thể dời núi (nghĩa bóng là vững
niềm tin mà tập luyện đến chốn, thì bệnh nguy nan như trái núi cũng phải
dời khỏi người).
- Có quyết tâm là thực hiện ngay, càng để chậm là ngần ngại càng khó
khăn thêm, càng lâu khỏi bệnh.
Ghi chú thêm:
- Khi anh Phạm Viết Hồng Lâm tới báo cáo là anh đã khỏi ung thư và cảm
ơn tôi. Tôi hỏi: Anh xin chữa cô-ban có ba 3 tháng, anh ăn gạo lức muối vừng,
anh tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" thì biết anh khỏi bệnh nhờ phương
pháp nào?
- Thưa Bác, cháu có suy nghĩ!
- Nếu bệnh ung thư khỏi vì phương pháp hiện đại thì ông Viên sĩ Mỹ
đã khỏi, ông không phải ăn theo thực dưỡng của Giáo sư Nhật OSAWA,
nhưng cũng phải mất 15 tháng ông Viên sĩ Mỹ kia mới khỏi.
- Khi Bác phổ biến, cháu tập "Đạt Ma Dịch Cân Kinh" và cho cháu
thuốc, chỉ trong 100 ngày luyện tập, cháu ăn ngon, ngủ tốt, sinh lực cháu
bừng lên, cháu càng tin tưởng và kiên trì tập ngày 3 buổi, chỉ trong 3
tháng là bệnh ung thư của cháu được xóa sạch.
- Thế thì chính Bác phải cảm ơn cháu, vì trong tài liệu có viết và dẫn
chứng các cá nhân bị ung thư đã tự chữa khỏi. Dù sao cũng chỉ là tài
liệu, nay cháu đã minh chứng thì tài liệu này đáng tin và nên khuyên mọi
người tập, không những khỏi ung thư mà các bệnh khác cũng khỏi.

|
© Giao Điểm. Bài
vở đóng góp, thư từ và ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188
Garden Grove, CA.92842, USA. Bài đã đánh vi tính, xin email về: hoa63@hotmail.com |
|
|
. |
.......... |