posted: 21.5.2005
Vài lời
của web Gđ: Trên web Người
Việt online do ông Đỗ Ngọc Yến làm chủ, ngày 9/5/2005 đã khởi đăng bài
báo đầu tiên trong loạt bài (đoán
được do hai chữ “còn tiếp” ở cuối bài) http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=23366&z=12 Theo lời của nhà
thơ Trần Mạnh Hảo (ở trong nước) qua điện thư trao đổi với chúng
tôi, thì nội dung bài báo nói trên mang tính cách “vô cớ vu cáo”, “bôi
nhọ danh dự” ông, và “là một hành vi có vẻ phản lại với những tờ
báo văn minh” v.v… Và, mặc dù dưới bài viết, mạng lưới NV online đã
rào đón như thường lệ bằng khuôn chữ: “LTS:
Ý
kiến bày tỏ trên trang Diển Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết
phản ảnh quan diểm của nhật báo Người Việt và Nguoi-Viet Online.”, nhưng tòa sọan này lại không chịu đăng
bài viết trả lời “tác giả Nguyễn Thái Lai” của nhà thơ Trần Mạnh
Hảo, đồng thời im tiếng không thèm phúc đáp lá thư của TMH đặt vấn
đề về nội dung bài báo. Đây quả là “sự cố” kỳ dị của những
‘cơ quan-cơ sở-cơ cấu-cơ sự-cơ
tâm’ ngôn luận của người Việt ở nước ngoài. Bởi lý, chính họ là
những cái “ống loa” sôi nổi nhất đòi hỏi chính quyền trong nước phải
thực thi nhân quyền, tự do báo chí, giao lưu phải hai chiều, nhưng chính họ
lại từ chối một yêu cầu chính đáng của ông Trần Mạnh Hảo khi bị một
kẻ ẩn danh tấn công mình bằng cây bút. Nhận thấy đó là một hành vi
thiếu công bằng, ‘chơi khăm’ của nhật báo+website Người Việt, nên
web Giao Điểm không thể nào bỏ qua nỗi niềm của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
-một nhà thơ cô thế, thấp cổ bé miệng so với một cơ ngơi báo chí tư
bản đồ sộ như nhật báo Người Việt. Hơn nữa, diễn đàn Giao Điểm
trước sau vẫn là nơi hội tụ của những con người cô thế. Đây là
bài thứ nhất trong lọat bài trả lời của ông Trần Mạnh Hảo. GĐ. * *
* Kính gửi quý ông Ban Biên Tập nhật báo
“Người Việt” và “Người Việt online” Thưa quý ông, Chúng tôi là Trần Mạnh Hảo, làm nghề viết
báo viết văn trong nước. Sau khi đọc bài “Chân tướng Trần Mạnh Hảo”
của Nguyễn Thái Lai in trên “NGUOIVIET ONLINE” vừa qua, chúng tôi đã viết
bài trả lời, gửi tới quý báo từ ngày 14-5-2005, nhưng đến nay đã là
ngày 18-5-2005, chúng tôi vẫn chưa nhận được hồi âm của quý báo. Chúng tôi thiết nghĩ, từ lâu nay, quý báo
trưng bổn hiệu NGƯỜI VIỆT =TỰ DO=DÂN CHỦ=ĐA NGUYÊN thì chắc đến
nay, quý báo vẫn còn giữ mục tiêu ĐẸP ĐẼ này? Việc quý báo tạo sân
chơi cho một kẻ cầm bút trong nước, núp dưới một danh xưng ảo : NGUYỄN
THÁI LAI để bịa đặt ra tất cả mọi chuyện, nhằm vô cớ vu cáo, bôi
nhọ danh dự của Trần Mạnh Hảo là một hành vi có vẻ như phản lại với
những tờ báo văn minh, kể cả với báo chí của cộng sản trong nươc mà
NGƯỜI VIỆT vẫn phê phán là bọn VĂN NÔ, BÁO NÔ ( cũng ít khi xử dụng
những “đòn” như quý báo đã dùng để bôi nhọ chúng tôi như vừa qua
quý báo đã dùng).Thực tình, chúng tôi chưa bao giờ có cơ hội gây thù
chuốc án với tờ NGƯỜI VIỆT của quý báo. Không hiểu vì lý do gì mà
quý báo lại căm thù chúng tôi một cách không thể hiểu như thế ? Vậy, lần thứ 2, chúng tôi
tiếp tục gửi bài báo này đến quý báo, để theo lẽ thông thường, quý
báo có trách nhiệm phải đăng trên “Người Việt online” bài báo trả lời
của chúng tôi, để dư luận tỏ tường. Kính chúc quý báo sức khỏe để thực thi
những “lý tưởng TỰ DO DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN” rất tốt đẹp mà quý báo
hằng xiển dương, theo đuổi. Sài Gòn chiều 18-5-2005 Kính thư : Trần Mạnh Hảo KHI BÁO “NGƯỜI-VIỆT ONLINE” DÙNG MỘT “NGƯỜI ẢO” ĐÁNH MỘT
NGƯỜI THẬT : NGUYỄN THÁI LAI, ÔNG LÀ AI ?
SAO LẠI HÈN HẠ NÚP VÀO “XÓ –TỐI” ĐỂ “NÉM ĐÁ GIẤU
Trần Mạnh Hảo Trên báo “Người Việt
online” phát đi từ Hoa Kỳ, trong hai số liền từ ngày 9-5-2005 vừa qua,
có đăng bài báo khá dài có tên : “Chân tướng Trần Mạnh Hảo” của
Nguyễn Thái Lai- một tên tuổi lạ hoắc lần đầu xuất hiện trong làng
báo quốc ngoại cũng như quốc nội. Đọc hết 2 phần của bài
báo trên, người đọc có cảm tưởng Nguyễn Thái Lai phải là người gắn
với Trần Mạnh Hảo như hình với bóng suốt bao nhiêu năm mới có thể biến
thành con gà bới…rác, bới… chuyện của gia đình và đời tư Trần Mạnh
Hảo từ xó bếp đến gầm giường rành rẽ hơn cả chổi cùn rế rách
nhà người ta, mới có thể kể lể ra bao nhiêu khúc nhôi cụ thể y hệt
cuốn phim quay trộm đến thế ! Thậm chí, ông Nguyễn Thái Lai này có thể
đã biến thành cái máy quay phim trộm, máy nghe trộm gắn vào dày dép, áo
quần của Trần Mạnh Hảo, mới có thể nghe được những chuyện kín tày
trời như chuyện ông Nguyễn Văn Linh cố tổng bí thư “đối thoại ảo”
riêng với Trần Mạnh Hảo như đang diễn ra trước mặt Nguyễn Thái Lai vậy;
thậm chí ông Thái Lai này không biết bằng cách nào đã biến thành máy
quay lén, máy nghe trộm gắn vào váy xống của vợ con Trần Mạnh Hảo, mới
có thể nghe được lời của công an A-25 “dọa nạt ảo” bà vợ chúng
tôi như ông Thái Lai đã kể tỉ mỉ tưởng như thật 100% trong bài. Như vậy, Nguyễn Thái Lai
– danh xưng này đích thị là của một cây bút giấu mặt trong nước, dùng
chiếc khăn trùm đầu kiểu phụ nữ Hồi giáo trùm mặt, núp trong xó tối,
không dám lộ chân thân của mình - một hành vi đốn mạt nhằm bịa ra toàn
bộ các chi tiết trong bài trên “Người Việt online” để “tố điêu”
Trần Mạnh Hảo, vu cáo Trần Mạnh Hảo trước dư luận hải ngoại và qua
hải ngoại truyền vào trong nước. Nguyễn Thái Lai – kẻ giấu mặt trong
nước đã tìm được một xó tối vô cùng kín đáo và an toàn tít bên Mỹ
để hành nghề đánh đấm người khác bằng món võ gian manh,vu cáo một
cách trơ trẽn và hèn mạt. Nếu Nguyễn Thái Lai là người tử tế, đàng
hoàng sao lại phải đội một cái tên giả rồi ẩn núp vào đêm tối kiểu
dơi chuột mà ném vật dơ bẩn vào Trần Mạnh Hảo như thế này ? Chúng
tôi, xin chỉ ra một số điều gian trá, bịa đặt của Nguyễn Thái Lai, nếu
kể ra hết, chắc phải in hơn 10 số trên “ Người Việt” chứ chẳng
chơi. Nguyễn Thái Lai đã dựng đứng, bịa ra tất cả mọi điều, chỉ
xin kể ra mấy điều cơ bản : 1- Bịa
ra chuyện Trần Mạnh Hảo tố nhà thơ Thanh Thảo trong rừng khiến ông này
bị đi tù nhiều năm : “ …Hồi ở trong rừng
chính TMH đã viết thư nặc danh tố cáo nhà thơ Thanh Thảo làm thơ phản
động qua bài : “ Thế hệ chúng tôi nói về chúng tôi” khiến anh này phải
đi tù mấy năm”. Nhà thơ Thanh Thảo từng là bạn chúng tôi, anh chưa
hề bị đi tù ngày nào, hiện nay anh là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật
tỉnh Quảng Ngãi. Bạn đọc, hoặc các
“xếp” Người Việt” thử gọi số điện thoại di động của anh Thanh
Thảo đang ở Quảng Ngãi, Việt 2- Nguyễn
Thái Lai đã bịa ra cả lý lịch của Trần Mạnh Hảo như sau : “Bởi lẽ anh ta ( tức TMH) là con ruột của một
người nông dân nghèo họ Phạm, đẻ ra phải mang cho một ông nhà giàu mộ
đạo họ Trần, nên làm khai sinh là Trần Mạnh Hảo. Năm 1954, ông bố
nuôi họ Trần di cư vào Nam (sau năm 1975 định cư tại Mỹ) ông TMH quay về
với ông bố đẻ họ Phạm”. Nguyễn Thái Lai dám bịa ra chuyện bố
đẻ với bố nuôi của TMH thì quả đúng tên này là loại người càn rỡ
vô cùng, liều mạng vô cùng. Nếu TMH ở Mỹ, chỉ cần một chi tiết này
đủ kiện báo “Người Việt” và tên nặc danh NTL kia bắt phải bồi thường
danh dự. Thưa rằng, bố đẻ Trần Mạnh Hảo là họ Trần hiện đang còn
sống ở quê nhà Nam Định. 3- Nguyễn
Thái Lai bịa ra chuyện cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gặp riêng Trần Mạnh
Hảo và tên bịp bợm còn làm như chứng kiến cuộc “họp kín” này, để nghe được lời TMH khóc hu hu với
ông chóp bu cộng sản mới thật là càn rỡ và liều mạng vô song : “Thế là trong dịp được cố tổng bí thư gọi
lên cho uống bia và trứng vịt lộn để hỏi chuyện nhà thơ “Ly Thân”
. TMH đã vứt bỏ mọi quan điểm “phản kháng” qua những tác phẩm anh
ta đã viết, để giở giọng ỡm ờ nửa nạc nửa mỡ : “ Dạ thưa đồng
chí tổng bí thư, em muốn yêu đảng lắm mà tụi nó không cho em yêu…”.
4- Nguyễn
Thái Lai bịa ra chuyện TMH bắn vào : “hải ngoại”, bịa ra chuyện TMH
nói giọng công an ở ngay cuộc họp cộng tác viên NXB Trẻ như sau : “Mãi tới hơn một năm sau, TMH mới dám bắn
phát súng đầu tiên vào hải ngoại, nơi anh ta đầu thú mấy năm nay. Trong
một cuộc họp cộng tác viên của NXB Trẻ, mọi người bật ngửa nghe TMH
tố cáo âm mưu diễn biến hoà bình…” 5- Nguyễn
Thái Lai bịa ra chuyện công an văn hoá ( A-25) gây áp lực với bà xã của
TMH để bắt TMH viết theo chỉ thị của công an một cách hết sức láo
khoét và phi lý như sau : “Có người cho rằng
công an văn hoá đã áp lực với vợ TMH : “ visa của chị có được tái
cấp hay không là tuỳ thuộc vào chồng chị…”. Thưa rằng, bà xã TMH
từ Sài Gòn sang Pháp có chưa đầy một năm rồi về ( hồi hương) sau đó,
với chứng minh thư và hộ khẩu Sài Gòn – Việt Nam ngay khi TMH in cuốn Ly
Thân, sao tên Nguyễn Thái Lai nào đó lại cả gan bịa ra chuyện này thế ? 6- Nguyễn
Thái Lai bịa ra cả chuyện mấy ông nhà văn “bảo thủ” đến nhà TMH
chén chú chén anh một cách trơ trẽn như sau : “ Mở tiệc tại tư gia mời nào Anh Đức, Bảo
Định Giang, Mai Quốc Liên, Trần Trọng Đăng Đàn…” . Xin độc giả
trong và ngoài nước, cùng các “xếp” “Người Việt” thử dùng nghiệp
vụ báo chí mà gọi điện thoại về cho các ông Anh Đức, Mai Quốc Liên,
Trần Trọng Đăng Đàn… đang cư trú tại Sài Gòn xem các ông này đã từng
nhìn thấy tư gia TMH tròn hay méo, đầu
cua tai nheo ra sao bao giờ chưa ? Để thấy tên đại bịp Thái Lai là một
tên dựng đứng ra tất cả mọi chuyện một cách hèn hạ và đê tiện nhường
nào ? 7- Nguyễn
Thái Lai là một tên gà mờ, hoàn toàn dốt đặc, hay gã này mở miệng ra
là nói gian, cố ý xuyên tạc, nói láo, đến nỗi râu ông nọ cắm cằm
bà kia như sau : “ Nào là “ Đất nước hình
tia chớp” ( Chế Lan Viên), nào là “ Đôi mắt mang hình viên đạn” (
Nguyễn Duy)…”. Thưa rằng “ Đất nước hình tia chớp” là trường
ca khá nổi tiếng trong nước của Trần Mạnh Hảo, sao tên đại bịp Thái
Lai dám bảo là của Chế Lan Viên ? Và “ Đôi mắt mang hình viên đạn”
là bài hát nổi tiếng của Trần Tiến , gã Thái Lai lại gán cho Nguyễn
Duy thì quả tình tên này chuyên gọi TRẮNG là ĐEN và ngược lại vậy! 8- Nguyễn Thái Lai- gã nặc
danh không hề đọc các bài báo của chúng tôi viết và các bài báo phỏng
vấn chúng tôi, nhưng gã vẫn cứ nhắm mắt viết bừa, ví dụ như khi gã
viết : “Bút đào huyệt giấy mà chôn
mình dần” . Đây là một câu thơ của Nguyễn Bính mà Trần Mạnh Hảo
dùng để tự vận vào mình khi trả lời phỏng vấn báo “An ninh thế giới”…”.
Xin thưa, câu thơ “ Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần” là câu thơ
của Trần Mạnh Hảo trong bài “ Nguyễn Bính”, chứ hoàn toàn không phải
là thơ của Nguyễn Bính như gã này xuyên tạc, đây cũng là nhan đề bài
phỏng vấn của báo “An ninh thế giới” phỏng vấn TMH mà trang web
Talawas đã đăng lại và còn đang lưu trên mạng nhà. Bài thơ “Nguyễn Bính”
của Trần Mạnh Hảo đã in trên 4 tờ báo trong nước, chỉ xin trích ra 4
câu kết, như sau :
“ Đêm sao sáng cạn hoàng hôn
Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần
Một đoàn bươm bướm đưa chân
Hai hàng lục bát khiêng phần mộ thơ” Rõ ràng thơ Trần Mạnh Hảo
mà Nguyễn Thái Lai lại bảo thơ Nguyễn Bính, thơ Chế Lan Viên, thì thử hỏi
có chi tiết nào trong bài báo nặc danh giấu mặt kia của gã đại bịp này
lại không gian dối, điêu toa ?
Trong bài báo bịp bợm toàn là vu cáo, tố điêu của Nguyễn Thái
Lai, gã đã xuyên tạc tất cả các bài phê bình của TMH “được” gã nhắc
tới. Trần Mạnh Hảo chỉ xin in kèm theo bài báo này mấy bài, là những
bài TMH phê bình thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ Lê Đ ạt và bài phê bình quan
niệm “văn học Việt BỐN BÀI VIẾT CỦA TRẦN MẠNH
HẢO CHỐNG LẠI SỰ XUYÊN TẠC, VU CÁO TRẮNG TRỢN VÀ ĐÊ TIỆN CỦA TÊN
GIẤU MẶT NGUYỄN THÁI LAI BÀI MỘT : “SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA”
HAY LÀ BỆNH NGỦ CỦA THƠ ? Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều,
do nhà xuất bản Lao Động ấn hành năm 1992, dù đã được Hội Nhà văn
Việt Chính vì vậy tôi nóng
lòng tìm đọc xem bằng Sự mất ngủ của
lửa Nguyễn Quang Thiều đã thoát khỏi vũng
bùn tiểu nông thơ Việt Chúng ta hãy thử khảo
sát một cơn mơ của tác giả :
… Trong cơn mơ đói và buồn
Các cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy
phóng qua
Như dao sắc phất vào tôi tứa máu
Tôi nấc lên một câu hỏi như người
sặc khói
Rằng nếu tôi lấy họ
Tôi sẽ ngủ với họ thế nào…
(Câu hỏi cuối ngày trang 53)
Vâng “nếu tôi lấy họ, tôi sẽ ngủ với họ
thế nào”. Tôi như không thể tin vào mắt mình được nữa. Rằng,
người ta đã viết một cách tỉnh khô, thậm chí còn ra vẻ đau đớn và
suy tư về một điều bất nhã, thậm chí nhảm nhí và bậy bạ nhường
ấy. Rằng khi anh ta đói và buồn, nhất là lại đói và buồn trong giấc mơ,
thì anh ta có quyền khát khao bất cứ điều gì, kể cả những điều đạo
đức và văn hóa của anh không cho phép ? “Các
cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy phóng qua” anh, là chuyện hết sức
bình thường. Nhưng cơn cớ gì, căn bệnh gì, khiến anh tiếp nhận hình
ảnh kia một cách khác thường như đỉa phải vôi vậy ? Thấy các cô gái cưỡi xe mặc váy, tự nhiên tự
lành, tác giả như lăn đùng ra mà quằn quại một cách vô lối : “Nấc lên một câu hỏi như người sặc khói”.
Những tưởng câu hỏi gì trang trọng và nhân thế lắm. Ai dè, tác giả
đưa ra một thèm muốn lố bịch : “Rằng
nếu tôi lấy họ, tôi sẽ ngủ với họ thế nào” ! Xin lỗi ! Một
tay đàn ông mà hễ gặp đàn bà con gái nào đi qua, cũng đều mang ý nghĩ
rằng nếu ta mà lấy được mi, ta sẽ ngủ với mi như thế nào đây, thì
tất người đàn ông kia là một kẻ thô bỉ, thiếu văn hóa, huống hồ…
Cuối bài thơ này, Nguyễn Quang Thiều gặp mấy cô buôn chuyến đang ngoẹo
đầu ngủ, tóc tai quần áo sặc mùi cá khô… và anh, nhà thơ cũng tự hỏi
mình rằng nếu ta lấy được mấy mụ bán cá kia, ta sẽ ngủ với họ như
thế nào đây ? Tôi ngờ rằng chỉ có một người chữa được căn bệnh
trăn trở này của tác giả chính là bà xã của ông ta mà thôi. Thơ mà hiện đại đến như thế này thì tôi
không sao chịu nổi. Cầu mong Sự mất ngủ của lửa đừng biến thành
con ruồi Tsé-Tsé tận bên Phi Châu để đốt vào nàng Thơ căn bệnh ngủ
li bì cho đến chết. Tác giả của Sự mất ngủ của lửa, cứ tưởng là một
người đàn ông mạnh mẽ đến lì lợm, ai dè anh lại là một nhà thơ hay
khóc nhất Việt Người hay khóc vặt ấy,
thậm chí thấy một con chó dịu dàng quá cũng òa khóc mà lại chỉ ước
ao sau khi chết được biến thành một con chó thì lạ thật, nghịch lý thật
:
Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ
Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi
(Bài hát cố hương, trang 60) Cái người có mơ ước
như thế này, dứt khoát phải là người gan cùng mình, bặm trợn, bất cần
đời, thậm chí oán hận kiếp người đến mụ mẫm, chứ quyết không phải
là gã đàn ông đụng vào bất cứ món tóc tơ nào ở đời cũng òa lên
mà khóc. Do đó, người đọc không còn tin được nữa, vì cái ước muốn
quá ư giả tạo ấy. Trước đó, nhà thơ đã viết về Bầy chó của tôi ở trang 45, tác giả
nhìn con chó thật ghê tởm :
… Sủa cay đắng, thảm sầu, man rợ
…
Hay sợ đêm mà sủa vào bóng tối
Hay sợ nhau mà sủa vào nhau
Bầy chó gầy bẩn thỉu ốm đau
Ngày lùng sục kiếm ăn
Liếm cả lưỡi vào dao sắc ngọt
Lưỡi bị cứa máu trào ra ở đó
Con đến sau lại liếm máu bầy mình Nhìn con chó, loài chó một
cách kinh hãi như vậy, mà vẫn chỉ mong sau khi chết biến thành con chó nhỏ,
con người thế ấy có thể tin được chăng, có thể biết cách nói với
ta về những điều tốt lành tươi đẹp được chăng ? Thơ muốn đi vào cái thế
giới không chừng mực của tâm linh con người, việc đầu tiên là nó phải
chấp nhận cái lôgíc của thế giới chừng mực đã. Thơ Nguyễn Quang Thiều
chưa đạt được cái siêu nhưng đã phạm
quy trong trường thi của cái thực. Ta thử
đọc bài thơ mang số ba La Mã trong Mười một
khúc cảm của anh :
Người
đàn bà có một gia tài hơn ta là biết khóc trước ta
mười bốn năm
Giờ trong vòng tay ta đam mê quay lại khóc nghi ngờ
Ta đi về cửa ngõ của chiều
Ta đi về thuở ta chưa cắt rốn
Ta đi về thủa ta còn sóng sánh
Và ta chạm lời nguyền vĩ đại
Man rợ ngân lên từ phía tối mặt trời Đúng là rau nào sâu ấy,
khi nhà thơ có cái đức hay khóc thì đến cái người đàn bà của anh ta,
mặc dù lớn hơn anh những mười bốn tuổi lại cũng mắc chứng hay nhè.
Khi người đàn bà lớn hơn người đàn ông mười bốn tuổi, lại đang nằm
gọn lỏn trong vòng tay của anh tình nhân bé bỏng, hẳn là bà ta tí tởn lắm,
chứ nào có cần gì căn bệnh suy tư triết học của tác giả mà nấc lên
tiếng khóc nghi ngờ ? Điều này không
thể tin nổi vì nó phi lôgíc. Ca dao có câu : “Nạ dòng vớ được trai tơ, Đêm nằm hí
hửng như ngô được vàng”. Người đàn ông có quyền ôm người đàn
bà hay khóc ở bất cứ nơi đâu, rồi đi về đâu mặc kệ, chẳng có điều
gì ghê gớm và hệ trọng cả. Vậy mà tự nhiên tự lành, tác giả bỗng
làm ra như là chuyện kinh thiên động địa vậy : “Ta chạm vào lời nguyền vĩ đại, Man rợ
ngân lên từ phía tối mặt trời”. Cái việc anh ôm người đàn bà
và cái việc chạm vào lời thề vĩ đại đến man rợ là hai việc chẳng
liên quan gì đến nhau. Chỉ tội ông mặt trời bị người ta ăn ốc, mình
đi đổ vỏ. Thường gặp những chi tiết, những sự việc trong thơ Nguyễn
Quang Thiều đi bên nhau một cách ông chẳng bà chuộc như thế, chẳng hề
có dây mơ rễ má gì với nhau, phá bỏ và từ chối mọi lý lẽ đơn giản
của đời sống, của cái thực, rồi hô hoán lên rằng tôi làm thơ siêu
thực, rằng tôi không viết cho sự hiểu. Muốn
siêu thực, trước hết thơ phải đi qua, đi tới tận cùng, tới đầu mút
của hiện thực cái đã. Thơ anh chưa thể tất, chưa biết điều, chưa học
được phép ứng xử của cái thực mà đã đòi siêu thực thì quả là con
ễnh ương của La Fontaine rồi còn gì. Đây âu cũng là căn bệnh chung của
các nhà thơ nhận thơ mình siêu thực hiện nay. Chưa đỗ ông nghè đã đe
hàng tổng, chưa thấu được cái lý đương nhiên ở đời, thơ đã đòi
phi lý một cách không thèm ngó ngàng đến thời
kỳ quá độ của sự phát triển sự vật thì quả tác giả liều mạng
thật.
… “Nơi bầu vú ăn vào đá sỏi
Cứ nâu dần sau mỗi tiếng u u…”
(Mười một khúc cảm, trang 28) Bầu vú của người đàn bà là chuyện
hoàn toàn cụ thể, ăn là động từ rất
cụ thể, đá sỏi càng không phải là một khái niệm, cớ sao bầu vú kia
lại ăn được đá sỏi ? Càng kỳ lạ hơn nữa, sau khi cái bầu vú kia
nâu dần, nó chợt ngân u u lên như vỏ ốc ? Muốn đạt được nghĩa bóng
trong thơ, trước hết cái nghĩa đen phải đúng, phải hợp lý chứ ? Đâu
phải cứ nhà thơ thì có toàn chuyện bịa đặt, quyền biến con rắn thành
cái tăm và biến con voi thành hạt mít ? Tác giả của Sự mất ngủ của lửa chừng như bị bầu
vú của đàn bà ám như ma ám, khiến trong cùng một bài thơ, cùng một
trang thơ, khi viết về bầu vú của đám bà góa trong làng anh, đã thiếu sự
nhất quán : “Bầu
vú họ mệt mỏi nằm ngoẹo đầu và trở nên nghễnh ngãng,
không còn nghe được tiếng gọi đàn ông… Chưa nói đến kết luận
này thiếu khoa học, thiếu chính xác về cơ thể học, y học… ngay sau đó,
tác giả chợt ngược lại …
“Bầu vú họ vươn về ngọn lửa giới tính và nhóm lên đâu đó…
(Những thí dụ, 7 trang 37) Sự tiền hậu bất nhất
ngay trong một câu, một đoạn thơ của tác giả còn khá nhiều, chỉ xin lấy
ví dụ trong bài Trên đại lộ trang 52.
Bài thơ kể lể một cách tỉ mẩn, rề rà, lê thê về những người đàn
bà đi đánh dậm về trong nỗi thống khổ, thậm chí nhếch nhác của nỗi
buồn tiểu nông thảm hại. Tuy nhiên, sự
trái ngược của hai câu thơ nằm kề sát nhau khi tác giả cùng một lúc viết
: “Họ lặng lẽ đi như đội quân thất
trận… Vảy cá bám trên áo họ lấp lánh những tấm huân chương”. Ôi,
những kẻ thất trận của Sự mất ngủ của
lửa ơi, ta xin chào mi, vì lẽ gì mà
mi được gắn nhiều huân chương trên ngực rứa ? Với những người đàn
bà bình thường đi đánh dậm về, tác giả tả chân một cách dửng dưng,
khinh bạc, tự nhiên chủ nghĩa, nếu không nói rằng anh có cái nhìn nhẫn
tâm :
… “Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu
Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người Trong cuộc sống, có những
điều tế nhị, thậm chí vì phép giữ vệ sinh, người ta không nói ra, huống
hồ đây lại là thơ, tiếng nói của cái đẹp. Mùi tanh cua ốc tỏa ra từ
những người đàn bà lẽ nào lại là đối tượng miêu tả của thơ anh ?
Không hiểu cái nhìn của nhà thơ có quá độc đáo, khứu giác quá nhậy
bén hay sao mà những người đàn bà trong thơ anh thường bốc mùi kỳ dị
? Ở trang 54, tác giả còn tả các cô gái ngủ với “tóc tai quần áo sặc mùi cá khô”. Hay
vì những người đàn bà một thời là đối tượng của hương hoa, của cái
đẹp, nay muốn làm cuộc đổi thay thơ ca, người ta cần phải tả ngược
lại ? Ngay những người đàn bà góa bụa cũng bị tác giả ví với cào
cào châu chấu. Cái nhìn tự nhiên chủ nghĩa của Nguyễn Quang Thiều mang nặng
phần ám ảnh, ẩn ức về sex của Freud : …
“Những bàn tay đàn ông
Bò ngược đùi đàn bà như từng
chùm chân dán !! … (Bầy
kiến qua bàn tiệc, trang 50)
“Đâu đây
những bầu vú con gái tuổi mười lăm
như
những mầm
cây nhoi lên khỏi đất” (Bài
hát cố hương, tr. 59) “Bầu
vú em gió núi thổi mát rượi” “Tôi
nhớ áo em tuột rơi trên bến kín một trăng xưa” (tr.
7) …
“Con chó liếm mãi, liếm mãi Liếm
mãi, liếm mãi, liếm mãi…
(tr. 39) Trong khúc số năm La Mã của
Mười một khúc cảm, tác giả tả người
đàn ông điên cởi truồng trong cái nhìn của một người đàn bà tỉnh
táo đi qua đường, rồi triết lý một cách hết sức lẩm cẩm :
…
“Người đàn ông điên không quần áo đang đi trên
đường phố
Thứ
tự do này làm hoảng sợ mọi thứ tự do…
Trong
sự hổ nhục của người đàn bà đi qua mặt
người đàn ông điên
Trong
sự không hổ nhục của người đàn ông điên trước
chúng sinh và mặt
trời Ta
vẽ mắt nhân loại hình lục giác Cái chuyện đôi khi ta bắt
gặp một người điên đi trên phố trong bộ đồ của Ađam và Eva là một
chuyện thường tình. Thế mà tác giả cuống lên, quan trọng hóa vấn đề
lên như vừa thấy quả bom nguyên tử lăn trên đường. Người điên không
ý thức và không chịu trách nhiệm về hành động tự khỏa thân của
mình, do đó không nên và không thể gọi đó là thứ tự do như tác giả
gán ghép để làm hoảng sợ mọi thứ tự
do. Một người đàn bà tỉnh táo là một người đàn bà không hề cảm
thấy hổ nhục khi vô tình trên đường
nhìn thấy một người đàn ông điên khỏa thân như tác giả tưởng tượng
ra. Có gì đâu mà đến nỗi ghê gớm mức đó ? Chấp với một người điên
và bảo người điên không biết hổ nhục, đoạn tác giả đòi vẽ mắt
loài người ra thành hình lục giác chỉ vì không thể chấp nhận một gã
đàn ông điên khỏa thân đi trong cái thế giới vô cùng tỉnh táo của thi
ca ! Triết lý, ví von lẩm cẩm,
khập khiễng là một đặc trưng thơ của Sự
mất ngủ của lửa : …
“Cốc cà phê càng nguội Màu
đen cà phê càng đen (tr.
26) …
Khói
đã phủ quanh phổi ta Con
rắn nước trườn qua cổ họng” (tr.
26) “Con
bò nguyền rủa con đường quá dài
Người
đàn ông nguyền rủa con bò đi quá
chậm” (tr.
12)
“Chiếc
bóng điện 1000 oát – vầng mặt
trời giả dối”
(tr. 51) Trong bài thơ mang số sáu
La Mã, trang 30, sau khi cái áo sơ sinh của con mình bay qua cửa sổ, không rõ
vì cái lôgíc siêu phàm nào mà tác giả đột nhiên phang một câu xanh rờn
: “Cái mỉm cười nhạo báng
của thời gian” Một đặc trưng của tập
thơ này là hầu hết các câu thơ không dính vào nhau, nó toàn ông chẳng
bà chuộc, nói lấy được, bất chấp những quy luật của tư duy và cảm
xúc. Đây cũng là sở trường của các nhà thơ mới đây đốc ra hiện đại
và toan đổi gác cả nền thơ. Thường thì nhiều câu thơ của dạng thơ này
bị mắc cái nạn dùng chữ quá dư thừa. Bởi họ viết nhanh như máy và
quên đắn đo sửa chữa. Xin lấy một thí dụ chỉ một câu ở trang 7 là
trang đầu : … “Những chiều xa quê tôi mong dòng sông
dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy”. Câu thơ 17 chữ, có thể
bỏ bớt đi 5 chữ mà nó vẫn vậy. Tôi xin rút gọn câu này dùm tác giả
: “Những chiếu xa quê mong dòng sông ngang
trời cho tôi nhìn”. Bênh cạnh cái non kém lồ
lộ của nghệ thuật làm thơ, có ý mà thiếu tứ, có quả mà không nhân,
nhiều chữ mà ít nghĩa, ưa triết mà thiếu lý, muốn tâm mà thiếu huyết…
Tác giả còn vướng một đôi mắt nhìn thiếu trong sáng, thiếu tôn trọng
những người đàn bà, vốn từng là biểu tượng của nghệ thuật, của cái
đẹp từ ngàn xưa đến nay. Mặt khác, thơ ca anh chính là bằng chứng chống
lại anh trong thái độ thiếu nhất quán, khiến người đọc không còn khả
năng tin tưởng vào nhà thơ nữa. Ở trang 26 anh cao hứng hứa : “Hốc mắt ta khô dù chỉ khóc một lần”. Nhưng
thực ra trong tập thơ hai mươi lăm bài, anh đã òa khóc đúng hai mươi lăm
lần không kể bao lần nghẹn nấc. Chính vì vậy, Nguyễn Quang Thiều cứ
giả giả thế nào ấy. Anh càng cố ý tỏ ra cảm động, tỏ ra mùi mẫn,
thì người đọc càng không thể mủi lòng. Thơ cũng như tình yêu vậy,
càng cố gắng tỏ ra, cố gắng gồng mình lên chừng nào càng thất bại
chừng ấy. Nguyễn Quang Thiều cần phải có duyên khi khóc và khi triết
lý, ẩn dụ, khái quát, họa may thơ ca còn mở lối cho anh. Tuy nhiên, phải
công nhận anh có khả năng liên tưởng khá tốt, khả năng dùng hình tượng
một cách liều lĩnh, ngổ ngáo, bất ngờ. Dù vậy, những khả năng trên
đều là con dao hai lưỡi, cần phải biết dùng đúng chỗ, đúng lúc mới
mang lại hiệu quả. Công bằng mà xét, trong tập
thơ này, đôi chỗ cũng còn có một vài câu thơ khá ngộ nghĩnh, hoặc vài
ba đoạn tương đối cảm động khi anh viết về quê hương, về làng xóm
mình. Tuy nhiên, phải thẳng thắn mà nói với nhau rằng, tập thơ này còn
quá non kém về nghệ thuật. Nhưng tại sao người ta lại trao cho nó giải
thưởng ? Đó là điều người viết bài này không sao hiểu nổi. Dư luận trên sách báo, ngoài đời đã nhiều lần
ta thán về giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1993. Việc đẩy những sản
phẩm tầm thường, thậm chí dở, lên thành hay, đánh lạc hướng thị hiếu
của lớp trẻ, đánh bùn sang ao như kiểu này thì thật tai hại cho tương
lai thơ, tương lai văn học. Người viết bài này thật cũng chẳng sung sướng
vinh dự gì khi phải vạch ra những điều yếu kém, cẩu thả, thiếu
nghiêm túc của một tập thơ như thơ dịch ẩu từ tiếng Tây này. Nhưng vì
trách nhiệm và nỗi lo lắng trước sự xuống dốc của văn học, của những
đánh giá thiếu thận trọng về giá trị của một thi phẩm, nền đành gồng
mình ra lên tiếng. Rất mong nhận được sự trao đổi của những nhà phê
bình thơ vốn lâu nay im hơi lặng tiếng, để thước đo cái hay cái đẹp
tìm lại được tiêu chuẩn của mình. (Rút trong tập “ THƠ PHẢN
THƠ” – NXB Văn Học -Hà Nội 1995) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com