-
-
- TẢN MẠN VỀ HIỆN TƯỢNG TOÀN CẦU HÓA
- ĐỂ GÓP Ý VỀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO CẤP ĐẠI HỌC TẠI
VIỆT NAM
- MINH ĐỖ
Trong bài viết "Hai Mươi Lăm Năm, Một Chặng Đường
Đại Học" đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày
14-4-2000, tác giả Nguyễn Quang Điễn cho biết hiện nay nước ta có khoảng
190 trường Đại học và Cao đẳng, và trên 200 Viện Nghiên cứu. Dù đây
chưa phải là một tỉ lệ lớn trên tổng số sinh viên toàn quốc, nhưng
con số đó cũng là một điều đáng phấn khởi trong lãnh vực đào tạo
và giáo dục. Tuy nhiên, điều tôi quan tâm hơn cả là tình trạng các
ngành nghề được dạy/học tại các cơ sở giáo dục nầy khá hạn chế,
và tác đô
䮧 tiêu cực của
tình trạng hạn chế đó trên xã hội nước ta ở tầng vĩ mô trong một tương
lai không xa.
Thật sự ngạc nhiên vì sự hạn chế rất đáng quan ngại
đó trong khung cảnh toàn cầu hóa hiện nay nên tôi xin được giới thiệu
và góp ý về sự cần thiết và tầm quan trọng của một vài ngành nghề đặc
biệt ở cấp Đại học và Cao đẳng, và đang được dạy/học tại tiểu
bang California. Những ngành nghề nầy đa số đã không được đưa vào
học trình cấp đại học nước ta, hoặc nếu có thì cũng không được giới
lãnh đạo giáo dục nước ta quan tâm đúng mức. Và tôi chọn California
làm mẫu hình quy chiếu vì bang nầy là cường quốc kinh tế thứ bảy trên
thế giới (tính theo Tổng sản lượng Quốc gia) và có một hệ thống
giáo dục tiến bộ nhất nước Mỹ về nội dung học trình (Curriculum) và
về số lượng luận án tiến sĩ các ngành đặc biệt được bảo vệ
hàng năm.
Ngoài ra, những suy nghiệm trong bài viết nầy còn xuất
phát từ cảm nhận bi quan về một mối nguy cơ đang đe dọa nước ta, đó
là một phần của tuổi trẽ Việt Nam có vẽ như đang trở thành nạn
nhân bị động của hiện tượng gọi là "toàn cầu hóa", một xu
thế quốc tế đang, lúc thì công khai lúc thì tiềm ẩn, tìm cách khuynh
loát và làm ô nhiễm quốc sách Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa
mà nước ta đang tiến hành. Cảm nhận đó, dĩ nhiên, tuy không có cơ sở
khoa học nhưng lại đến từ những quan sát khách quan và cọ xát thực tế
khi, từ bên nầy bờ Thái Bình dương, trông về quê meà ruột
đau chín chìu về sự hao mòn của tình tự quê hương và đạo lý dân
tộc trong phong cách và xử thế của một số lượng càng ngày càng nhiều
của tuổi trẽ Việt Nam tại các đô thị.
Đã có rất nhiều nghiên cứu sâu sắc và quy mô về ý đồ
và tác hại của giòng chảy kinh tế Bắc-Nam (trong những thập niên
50’ đến 80’) và cơn lốc Toàn Cầu hóa (kể từ khi Tổng thống Mỹ
George Bush dùng cụm từ "Trật tự mới" trong diễn văn nhậm
chức). Hầu hết những nghiên cứu lương thiện và nghiêm túc nầy đều cùng
đồng ý với nhau về ba kết luận:
1- Toàn cầu hóa là một chiến lược đa diện do Mỹ chủ
trương, lãnh đạo và khống chế.
2- Toàn cầu hóa tuy chủ yếu lấy kinh tế làm cơ sở vận
động nhưng cứu cánh là lãnh vực văn hóa, nhằm xiễn dương và áp đặt
một lối sống lấy các giá trị văn minh Mỹ làm chuẩn.
3- Toàn cầu hóa là một hình thái xâm lăng mới của hậu
duệ nền văn minh Hy Lạp-La Mã, mà chiến lược hữu hiệu nhất để chống
trả và chiến thắng là vận dụng và phát huy nội lực văn hóa đặc thù
của từng dân tộc, thể hiện qua nội dung giáo dục của từng quốc gia.
Thật vậy, cho đến nay và tại các nước nghèo đang phát
triển, ngoài những giao lưu kinh tế mà kết quả là để xây dựng cơ sở
vật chất hào nhoáng cho quốc gia và bảo đảm các nhu yếu phẩm tối thiểu
cho người dân, ở tâ vĩ mô, chúng ta thấy gi` ?
A- Toàn cầu hóa đang biến các nước nghèo đang phát triển
trở thành một ngôi chơthị trường) bát nháo mà đầu nậu là
các nước giàu đến mua nhân công rẽ, khai thác tài nguyên thô, và bán sản
phẩm, do đó bán luôn một nếp sống mới. Cụm từ nổi tiếng "văn
hóa CocaCola" mô tả đầy đủ quan hệ vận động chặt chẻ giữa
sản phẩm vật chất tiêu dùng và tác động tâm lý của nó trên người
tiêu thụ trong chiến lược toàn cầu hóa của Mỹ. Quen nghe nhạc của
Madonna thì khó mà tìm được giá trị nghệ thuật của điệu lý Chim
Quyên, cứ nấu ăn bằng nồi cơm điện mãi thì khó mà chia sẻ được giá
trị lao động ẩn tàng trong từng hạt lúa, phải phục vụ hoài cho du
khách nước ngoài thì khó mà truy tâୠđược lý do sâu đậm nhất vì sao
ta phải kiêu hãnh là người Việt Nam… Trọng ngoại, rồi vọng ngoại, trở
thành một xu thế thời thượng trên chính quê hương anh hùng của mình !
B- Toàn cầu hóa đang biến các nước nghèo đang phát triển
trở thành một thùng rác khổng lồ để các nước giàu tuôn vào đó
các loại sản phẩm độc hại trong xứ họ (như thuốc lá, bia rượu, hóa
chất trong thực phẩm, keo xịt tóc, thuốc gội đầu), vất vào đó các
công nghệ mà nước họ đã phế thải hoặc không dám dùng (như lọc dầu,
luyện kim, mạ kim loại, biến chế khí đốt, khai thác cây rừng), ném vào
đó các tệ đoan xã hội đang làm điêu đứng nước họ (như bệnh Aids,
kinh doanh thú vật hiếm, tự do tình dục, khai thác lao động vị thành
niên)… Sinh lực dân tộc bị tổn thương nhưng không phương cách chữa trị
vì áp lực nặng nề của miếng cơm manh áo, các nước nghèo như kẻ sống
sót giữa đại dương mênh mông, chỉ biết tiếp tục uống nước biển để
khỏi chết khát !
C- Toàn cầu hóa đang đe dọa độc lập kinh tế (do
đó chủ quyền chính trị) của các nước nghèo đang phát triển. Khi nền
kinh tế quốc gia phụ thuộc quá nhiều vào quan hệ ngoại thương và xem đó
là động lực chính để phát triển, thì mỗi quyết định chiến lược của
các tập đoàn tài phiệt nước ngoài chính là một thanh gươm Damocles đang
lủng lẳng treo trên đầu. Khủng hoảng tài chính vùng Đông và Đông Nam
Á không làm suy suyển được sức mạnh kinh tế của Mỹ (ngược lại, còn
làm cho nó mạnh thêm), nhưng một cơn sồi sụt của thị trường chứng
khoán New York, hay một cuộc đình công dài ngày của US Steel, có thể làm
kiệt lực chính sách phát triển Công nghiệp nặng của một quốc gia, kéo
theo những xáo trộn xã hội và chính trị không lường được !
Lẽ dĩ nhiên, nước ta chưa nhận chịu những tác hại đó
một cách trầm trọng, nhưng có vẽ như chúng ta cũng chưa đủ cảnh giác
để ý thức được hết mặt trái của hiện tượng Toàn cầu hóa, hầu
thiết kế ra được chiến lược đúng đắn để đối phó hữu hiệu. Cứ
nghe tiếng than não nuột của những nhà làm chính sách nước ta khi thấy
con số FDI (Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) tuột giốc, cứ nhìn
hàng hàng lớp lớp sinh viên tấp nập ghi danh vào các kỳ thi tuyển sinh
và chiêu sinh cho các bộ môn phục vụ ngành ngoại thương, cứ ngắm những
cao ốc tráng lệ được xây cất để cung ứng cho các văn phòng đại diện
thương mải nước ngoài…, và mặt khác, cứ thử đọc cuộc tranh luận sôi
nổi về giá trị văn hóa của các chiếc cầu khỉ trên sông lạch miền
Nam, … thì sẽ thấy sự hồ hởi vô trách nhiệm và thiếu sáng suốt của
khuynh hướng xem sự kiện kinh tế Việt Nam được toàn cầu hóa là một
giải pháp tích cực nhất để biến ước mơ "dân giàu nước mạnh"
thành hiện thực. Có điều không biết đã có ai làm rõ nghĩa được thế
nào là "giàu" thực, thế nào là "mạnh" thực của một quốc
gia, của một dân tộc chưa nhỉ !
Cũng lẽ dĩ nhiên là nước ta có điều kiện lịch sử khác
với các nước khác trên thế giới, khi mà nhu cầu phát triển kinh tế,
sau hơn nửa thế kỷ hy sinh tất cả để chống ngoại xâm dành độc lập,
là ưu tiên hàng đầu của mọi ưu tiên. Và Toàn cầu hóa đang là luật chơi
bất khả kháng trên bàn cờ thế giới. Nhưng sau 15 năm đổi mới để mở
cửa và làm bạn với mọi người, ngoài những con số thống kê kinh tế
và xã hội, không biết có ai đã toàn diện tính sổ lại xem ta "được"
gì và "mất" gì, "được" nhiều hay "mất" nhiều
? Chúng ta không theo một chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhưng chúng ta cũng cần
phải biết đâu là bản sắc gốc rễ bất biến (làm cho ta khác với gần
200 quốc gia khác trên thế giới) và đâu là ngọn ngành có thể tỏa ra đón
nhận và giao lưu với bất kỳ trào lưu nào của thời đại.
Chính sách giáo dục và đào tạo của nước ta chính là vũ
khí đa năng và hữu hiệu nhất để vừa thủ vừa công, thì vẫn đang dò
dẫm tìm một đường hướng chủ đạo đúng đắn, vẫn được tài trợ
bởi một tỉ lệ ngân sách quốc gia thấp nhất trong vùng Đông Nam Á, và
vẫn cứ mỗi độ cuối Hè, lại vọng lên tiếng kêu gào cải tổ của
sinh viên, giáo chức và phụ huynh.
Cho nên, từ ba kết luận và ba hệ quả nói trên, và nhìn
vào chính sách giáo dục và đào tạo nước ta (đặc biệt trong lãnh vực
ngành nghề được giãng dạy ở cấp đại học), tôi không thể không lấy
làm lo âu. Vì vậy, tôi xin đề nghị hai quan điểm chỉ hướng có tính
triết học, làm cơ sở cho cứu cánh giáo dục nước ta. Hai quan điểm đó
chẳng xa lạ gì với dân ta, nhưng lại đang được giới trí thức và đại
học của các nước nạn nhân của hiện tượng Toàn cầu hóa trên thế giới
hân hoan khám phá để ứng dụng:
Thứ nhất là thuyết Trùng trùng Duyên khởi trong Lý
Duyên sinh của nhà Chùa, được quấn bện chặt chẻ trong tương quan "cái
nầy có là vì cái kia co
馱uot;. Thuộc tính quan trọng của quan niệm nầy là "cùng nhau
và bằng nhau", hoàn toàn ngược lại chủ trương đấu tranh một mất
một còn để sinh tồn của triết lý Tây phương (mà cạnh tranh sát phạt
nhau trong thị trường kinh tế để làm giàu là một ví dụ điển hình).
Xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu mọi thành viên của xã
hội đó cùng nhau tồn tại và phát triển bằng nhau. Chỉ một
số lãnh vực, một số thành phần, một số ngành nghề được ưu tiên
"tiến lên" thì xã hội đó chưa thể gọi là tiến được. Từ đó,
nếu chính sách đào tạo và nhân dụng chỉ nhằm ưu tiên phục vụ cho một
số ngành nghề, cho một số lãnh vực và cho một số thành phần sinh viên
thì chính sách đó sẽ mất quân bằng (cho toàn thể xã hội) và khó tồn
tại (vì những "cái kia" không được "co’" một
cách tương xứng).
Thứ nhì, cũng của nhà Chùa, là Từ bi trong nghĩa rộng
lớn và tích cực nhất của nó là Cho vui và Cứu kho
場rong mối tương quan đa chiều. Triết
lý nhà Phật không lấy con người làm trung tâm để thiên nhiên và các
sinh vật khác phải phục vụ. Mọi vật (con người, sông núi, muông thú,
…) đều bình đẵng và dung thông với nhau mà tồn tại, cùng cho nhau niềm
vui, cùng cứu nhau khỏi khổ. Bảo vệ và trân trọng toàn hệ sinh thái
không phải vì chúng quan hệ mật thiết đến sinh diệt của chúng ta mà
chính vì chúng cũng có đời sống như chúng ta, hữu sinh hữu diệt (sông
cạn núi mòn), hữu giác hữu tình (ngày mai em đi, biễn nhớ tên em gọi
về, đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ…).
Xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển khi hệ sinh thái mà nó đang
chung sống cho nó niềm vui và cứu nó khỏi khổ. Nghĩa là các thành viên của
xã hội đó phải biết va蠨iểu cặn kẽ hệ sinh thái, làm gì thì nó vui, làm
gì thì nó khổ. "Hiểu va蠢iết cặn kẽ" bằng một triết lý giáo dục lấy
từ bi làm động lực, thông qua một chính sách giáo dục mà thiên nhiên cũng
là đối tượng nghiên cứu và trân trọng không kém phần quan trọng như
nghiên cứu và trân trọng con người hay các ngành nghề khác nhằm phục vụ
con người và xã hội.
Cần phải nói rõ rằng tôi cảm thông và chia sẽ nhu cầu
và áp lực kinh tế trong xã hội nước ta. Nhưng tôi cũng bị cọ xát và
được chứng nghiệm cái giá to lớn nước Mỹ đang phải trả蠶ì sai lầm trong chính sách đào tạo
và giáo dục nhân danh nhu cầu phát triễn kinh tế từ mấy thập niên trước.
Tại nước ta hiện nay, Tin học, Ngoại ngữ, và Kinh tế tài chính
đang là những nhu cầu lớn nhất trong thị trường nhân dụng, do đó đang
là ba ngành học bảo đảm chắc chắn nhất miếng cơm manh áo cho một sinh
viên mới ra trường. Từ đó, chúng trở thành trọng điểm đào tạo trong
chiến lược giáo dục để đáp ứng các chính sách phát triển quốc gia.
Nhưng có thật Tin học, Ngoại ngữ và Kinh tế Tài chính,
ngay cả trong giai đoạn này, có tầm quan trọng áp đảo hết các ngành nghề
khác trong sinh hoạt quốc gia và đời sống dân tộc không ? Có thật đó
là những công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ độc lập kinh tế và căn
cước văn hóa cho Tổ quốc trước cơn lốc Toàn cầu hóa quyến rũ không
? Chúng là phên dậu quốc gia hay con ngựa gổ thành Troie của đạo binh ngoại
nhập ? Còn những ngành nghề khác thì sao ? Chúng ta thử lấy một số đặc
tính trong triết lý và hệ thống giáo dục của bang California như một trường
hợp mẩu để suy nghiệm.
Ngoài các yếu tố cổ điển không thể không có đã đóng
góp cho sự thịnh vượng của bang, California còn có một đặc điểm mà
các bang khác không có là vai trò rường cột của giáo dục trong đời sống
kinh tế và xã hội của bang. Cụ thể, chiến lược giáo dục và đào tạo
của bang được đặt cơ sở trên bốn nguyên tắc chỉ hướng rất đơn
giản mà lại rất hữu hiệu: Khai phóng, Thực dụng, Đại chúng, và
Đồng bo䮠Hầu như đại
học của bất kỳ nước nào cũng chung chung có ba nguyên tắc đầu, nhưng
chính nguyên tắc thứ tư (Đồng bộ) đã làm cho đại học California khác
với các hệ thống đại học khác. "Đồng bộ" để không một
hình thái sinh hoạt nào của xã hội bị bỏ quên, "đồng bộ" để
không một đối tượng nào của cấu trúc con người/thiên nhiên là không
được nghiên cứu, "đồng bộ" để không ngành nghề nào là
không được trọng đãi trong thị trường nhân dụng, "đồng bộ"
để mọi thành tố cấu tạo nên cộng đồng xã hội tương tác một cách
quân bằng, và "đồng bộ" để tránh nguy cơ một bộ phận trong cấu
trúc con người/thiên nhiên bóc lột, áp đảo mô䴯những bộ phận khác.
Chính vì thế mà trong kiến trúc ba tầng của hệ thống đại
học California (Đại học cộng đồng thành phố City college, Đại học
trung tầng cấp tiểu bang California State University CSU, và Đại học
cao tầng cấp tiểu bang University of California UC), dù ở tầng nào thì
nội dung học trình cũng có những ngành học ít giá trị "nồi cơm
manh áo" (theo quan điểm của một số sinh viên nước ta) nhưng lại
được đông đảo sinh viên và xã hội California trân trọng.
Thử lấy đại học UC Berkeley làm dẫn chứng. Trong năm
1999, trên tổng số toàn thể sinh viên đăng ký theo học thì đông nhất
(42%) chọn các ngành Nhân văn Xã hội, 32% chọn Khoa học tự nhiên và Môi
trường Sinh thái, chỉ 20% chọn Điện toán và Tin học, và ít nhất (6%)
là các ngành Kinh tế Tài chánh. Sự phân bố nầy đã làm cho UC Berkeley trở
thành một định chế giáo dục xuất sắc và cấp tiến, đào tạo không
biết bao nhiêu nhân tài trong nhiều lãnh vực khác nhau để đóng góp cho sự
tiến bộ của nước Mỹ nói riêng và nhân loại nói chung. Do đó mà ta
không ngạc nhiên khi ban giảng huấn của UC Berkeley thu hút được nhiều giáo
sư được giải Nobel nhất, và trong chiến tranh Việt Nam, sinh viên Berkeley
đã phất ngọn cờ tiền phong chống sự hủy diệt của chiến tranh tại
Việt Nam cho phong trào sinh viên toàn thế giới.
Berkeley không phải là một biệt lệ, các trường đại học
khác tại California cũng có đầy ắp các môn học mà chắc cả giáo sư lẫn
sinh viên nước ta "chê" là phi kinh tế, không thời thượng. Thử
nhìn học trình của một số đại học ở cả ba tầng, từ Bắc đến Nam
California:
Speech pathology & audiology, Anthropology, Counseling (CSU
Sacramento)
Demography, Urban Design, Religious studies, Econometrics, Linguistics
(UC Berkeley)
Environmental Toxicology, Avian science, Hydrology (UC Davis)
Kinesiology, Criminology, Psychology, Sociology, Evolution, Ecology
(CSU Fresno)
Health education, Sign language studies, Composition and language
(Consumnes River College)
Atmospheric studies, Folklore and Mythology, Marine Science (UC Los
Angeles)
Entomology, Plant pathology, Ethnic studies, Nematology (UC Riverside)
Geology, Humanities, Food service management (Santa Ana College)
Library science, Creative writing, Human development (Irvine Valley
College)
Gerontology, Nutrition, Women studies, American Indian studies, Child
& Family development (CSU San Diego)
Một hiện tượng cần được ghi nhận ở đây là chính
quyền tiểu bang, cộng đồng xã hội, và giới giáo dục của bang
California không phải không đánh giá cao những ngành học "hái ra tiền"
nhiều và nhanh như Tin học, Kỹ thuật, Tài chánh … nhưng, và đây là điều
quan trọng, song song với các ngành học đó, họ còn khuyến khích, động
viên, và tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho đông đảo sinh
viên theo học các ngành có vẽ như "lạ lùng" đã liệt kê ở
trên.
Tính "đồng bộ" đó thật ra thoát thai từ nỗi sợ
hãi của một người phù thủy bắt đầu thấy âm binh đang trở lại khống
chế và bịt lối tương lai. Thật vâ乬 trong vòng lưới thiên la địa võng hiện nay của hiện
tượng "toàn cầu hóa", bất kỳ một con trùng vi tính (như con
virus ILOVEYOU) cũng có thể tự do ẩn náu trên siêu xa lộ tin học của bàn
cờ "toàn câ് hóa" để làm tê liệt hàng ngàn hệ thống vi
tính, gây trì trệ và khủng hoảng khắp thế giới. Cũng trong thế giới
đó, tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ bắt buộc để thông tin và giao thương
với nhau, nhưng vì thế mà đang dâdần trở thành ngôn ngữ duy nhất
của tuổi trẽ, ngôn ngữ duy nhất của tương lai…Và làm khô kiệt
những ngôn ngữ khác, vốn là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để
duy trì và phát triển các nền văn hóa khác, các cách sống khác !
Khi lấy hai dẫn chứng nhỏ đó trong lãnh vực Tin học và
Anh ngữ để làm minh họa cho nguy cơ toàn cầu hóa, và đặt nó trong khung
sườn giáo dục của tiểu bang California, tôi chỉ muốn nói lên một điều:
Đã có những nhà nhân bản, những nhà giáo dục, những người làm chính
sách tại Mỹ thấy rằng phát triển kinh tế không phải là tất ca묠và để cho quả địa cầu nầy
được sạch và đẹp, để cho con người sống hài hòa với nhau thì không
phải là cứ "toàn cầu hóa" theo kiểu Mỹ một cách đơn điệu
như một trại lính, mà phải có cái riêng trong cái chung, nghĩa
là Hòa nhưng không Đồng, Hội nhập nhưng không Hòa tan.
Mà để thực hiện được điều đó thì phải hiểu nhau,
phải biết nhau (To love is to Know, to Love is to Understand). Và những môn học
"hái không ra tiền" mà bang California đang trân trọng và tìm cách
xiễn dương như đã nói ở trên chính là nằm trong chiến lược giáo dục
"Know and Understand" của họ. Biết và Hiểu con người, thiên nhiên,
và cuộc sống đa dạng.
Đó là về phía phù thủy. Còn về phía "âm binh"
thì không phải âm binh nào cũng dại. Vương quốc Bhutan là trường hợp của
một dân tộc thông minh, và những nhà lảnh đạo Bhutan là những người có
tầm nhìn vượt thời đại. Nằm thu mình ở phía Đông của rặng núi Hi
Mã Lạp Sơn, giữa Tây Tạng và Aᮍ Độ, vương quốc nầy có diện tích bằng
một phần bảy của Việt Nam và được cai trị bởi một vị vua công bằng,
sáng suốt và yêu nước. Bhutan là nước duy nhất trên thế giới theo chế
độ Dân chủ Thần quyền (Democratic Theology). Nhà Vua hội ý với dân để
làm chính sách và nhờ vậy cùng thấy được nguy cơ của hiện tượng
"toàn cầu hóa". Từ đó, nhà Vua đã đưa ra những quốc sách tuy
khắt khe nhưng lại được lòng dân để bảo vệ sinh thái, bảo toàn xã hội
và xiễn dương văn hóa nước nhà. Nhờ vậy, Bhutan vẫn phát triển được
kinh tế mà người vẫn "sạch", nước không "dơ".
Thử lấy chính sách du lịch của vương quốc nầy làm điển
hình khảo sát vì du khách (của thế kỹ thứ 21) là "con vật" nói
tiếng Anh nhiều nhất, tiêu đô-la nhiều nhất, xả rác nhiều nhất, và dể
khích động tinh thần vọng ngoại nhất cho dân bản xứ. Ý thức được
điều đó, cho nên tuy Quỷ dự trữ ngoại tệ của quốc gia không nhiều
và thu nhập đầu người không cao, nhưng chính phủ Bhutan vẫn giới hạn lượng
du khách tối đa 5,000 người mỗi năm (so với 170,000 du khách đến Việt
Nam chỉ trong bốn tháng đầu tiên của năm nay). Năm ngàn người nầy phải
được mời mới đến, và phải đăng ký theo những tours du lịch văn hóa
quy định. Họ cũng sẽ bị phạt và trục xuất tức khắc nếu tàn phá
cây cỏ, rượu chè cờ bạc, và làm gương xấu cho dân Bhutan.
Một biện pháp khác của vua Bhutan cũng cần nhắc thêm ở
đây là giới hạn có đãi lọc những băng tần truyền sóng của nước
ngoài tìm cách xâm nhập vào Bhutan, không cho phép hình thái diễn đạt nghệ
thuật lố lăng của Tây phương tràn vào. Mặt khác, nhà Vua ban hành các sắc
lệnh và tháo khoán ngân sách rất lớn để phát triển nền Quốc học,
phát huy các giá trị dân tộc, giáo dục và động viên nhân dân giử gìn
và tham gia các lễ hội cổ truyền (kể cả việc mặc quốc phục truyền
thống).
Lẽ dĩ nhiên giới trí thức khoa bảng, nhân viên nội các
và thành phần kinh doanh, vìđã có dịp tiếp cận với nước ngoài nên biết
rõ
những tai họa của "toàn cầu hóa", đều ủng hộ
và giúp nhà Vua thiết kế nhiều chính sách thật hữu hiệu trong việc bảo
vệ bản sắc dân tộc và thiên nhiên cẩm tú của vương quốc Bhutan.
Nhờ Vua và dân cùng một lòng, nhờ đạo Phật là chủ đạo
của đời sống tâm linh dân tộc, và nhờ những chính sách sáng suốt được
lòng dân, mà dân tộc Bhutan "giàu" đạo lý và "mạnh"
nhân nghĩa trong một thế giới đang tìm đủ mọi cách để giàu tiền
bạc và mạnh súng đạn. Tệ đoan xã hội hầu như không có, kho tàng sinh
thái vẫn nguyên vẹn với rất nhiều dược thảo (như 50 giống rhododendron
hiếm quý), và gần 700 loại chim muông màu sắc lạ lùng. Vua Bhutan đã
dõng dạc trã lời "không" trước nỗ lực "toàn cầu
hóa" của thế giới Tây phương bằng lời tuyên bố nổi tiếng: "Bhutan
không có cái gì gọi là Tổng Sản lượng Quốc gia (GNP) cả, chúng tôi chỉ
có cái gọi là Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH) mà thôi"
Ở một mặt nào đó, tôi cảm phục vua Bhutan như đã cảm
phục vua Đinh Tiên Hoàng. Ngày xưa, trên ngọn Kiếm Lĩnh bên tả ngạn
sông Hoàng Long ở đất Hoa Lư, vua Đinh đã phất cờ lau nổi lên đánh
quân ngoại xâm dành độc lập cho nước ta… thì ngày nay, dưới rặng Hy
Mã Lạp sơn, với một đất nước bé nhỏ và một dân tộc hiền hòa, vua
Bhutan cũng phất ngọn cờ trí tuệ chống trả giòng thác "toàn cầu
hóa" để mang lại an lạc cho dân tộc và phẩm giá cho thiên nhiên của
quốc gia nầy.
Cách đây chưa lâu lắm, dân tộc ta đã vận dụng nội lực
đặc thù của nền văn minh 4000 năm của cha ông mà đánh tan hai đợt xâm
lăng và đô hộ, vì họ cho chúng ta là mọi rợ nên muốn áp đặt "ánh
sáng khai hóa" Tây phương Ky Tô giáo lên quê hương chúng ta. Kinh
qua bai蠨ọc lịch sử đó,
chúng ta nghiệm được gì về mối nguy cơ "toàn cầu hóa"
tinh vi trong buổi bình minh của thế kỹ thứ hai mươi mốt này ?
- MINH ĐỖ
- California, 6/2000
