-
-
- VÀI Ý KIẾN VỀ CUỐN
"NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG: NÓI VỚI 18 TÁC GIẢ GIAO ĐIỂM"
của ông ĐỖ MẠNH TRI
- Trần Chung Ngọc
(Trích trong cuốn "PHÊ BÌNH NHỮNG
BÀI PHÊ BÌNH CUỐN "ĐỐI THOẠI VỚI GIÁO HOÀNG GIOAN PHAO LỒ II" TẬP
2 - TRẢ LỜI ÔNG ĐỖ MẠNH TRI).
Giao Điểm Xuất Bản 1997
Tôi vừa đọc xong cuốn "Ngón
Tay và Mặt Trăng: Nói Với 18 Tác Giả Giao Điểm" của ông Đỗ Mạnh
Tri, do nhóm thân hữu của ông tái bản tại Cali, mùa hè 1997. Là một trong
18 tác giả Giao Điểm, tôi đã lắng tai nghe một cách trân trọng, và phân
vân tự hỏi: có nên góp ý kiến với ông Đỗ Mạnh Tri và có cần thiết
hay không? Thực ra thì không cần thiết, vì cuốn "Đối Thoại Với
Giáo Hoàng Gioan PhaoLồ II: Nhân Đọc Cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng",
(từ đây về sau được viết gọn là "Đối Thoại.."), Giao
Điểm xuất bản từ cuối 1995, đến nay đã được gần 2 năm. Hồi ứng
của độc giả cho biết đa số đón nhận cuốn sách này với nhiều thiện
cảm và đã ủng hộ Giao Điểm về vật chất cũng như về tinh thần. Để
đáp ứng sự đòi hỏi của độc giả, Giao Điểm đã phải tái bản cuốn
sách này ngay sau khi phát hành ấn bản đầu tiên. Sự kiện đa số độc
giả có cảm tình với cuốn "Đối Thoại.." cũng dễ hiểu,
vì cuốn "Đối Thoại..." không phải là tiếng nói của bất
cứ một tổ chức tôn giáo hay lực lượng dân tộc nào, nhưng cuốn "Đối
Thoại.." đã phần nào nói lên tâm tư của những người Việt yêu
nước, phản ánh một tinh thần bất khuất truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Đây là tiếng nói trí thức phát huy tinh thần dân tộc, tinh thần vô
úy, của một số người cảm thấy mình có trách nhiệm phải trả lại những
sự thực cho lịch sử, những sự thực đã bị xuyên tạc và bóp mép bởi
những chính quyền thực dân đô hộ, hay chính quyền tôn giáo trị dựa
vào thế lực tư bản và ngụy trang dưới chiêu bài chống Cộng như chính
quyền Ngô Đình Diệm... Tiếng nói này cất lên với tinh thần tôn trọng
sự thực, bất kể những sự thực này liên hệ đến vấn đề tế nhị
tôn giáo của một thế lực toàn cầu, vừa mạnh về chính trị, vừa
giàu có về tiền bạc, như Giáo hội Công Giáo. Tiếng nói này cất lên
không ngoài mục đích giải hoặc và khai sáng tâm tư của một số người
mà vì hoàn cảnh éo le của lịch sử cũng như vì thiếu một sự hiểu biết
chính xác về tôn giáo của mình nên đã bị lừa dối, mê hoặc để đi vào
con đường xa lìa dân tộc như lịch sử đã chứng minh, và sống như người
ngoại quốc trên chính đất nước của mình. (Nguyễn Văn Trung: "Nhận
Định 1, Nam Sơn, Saigon"). Và như vậy, tiếng nói này nhằm đẩy mạnh
tinh thần hòa hợp dân tộc, đoàn kết tôn giáo, giữa những con người hiểu
biết, có can đảm đối diện và chấp nhận sự thực để mà chuyển
hóa, trong thời đại văn minh tiến bộ của nhân loại. Cho nên, muốn nói
gì với 18 tác giả Giao Điểm thì nói, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không thể
thay đổi được những sự kiện trên.
Trước đây tôi cũng đã đọc bài
"Đọc "Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II"" của
ông Đỗ Mạnh Tri, đăng trên tờ Đất Mẹ, số 66, tháng 12, 1996,
trg. 47-51. Bài này được báo Đất Mẹ giới thiệu là một bài trình bày
sâu sắc và thâm thúy. Ông Nguyễn Văn Chức, trong một bài viết trên tờ "Thế
Giới Ngày Nay", Số 139, Xuân Đinh Sửu, cũng khen bài này là "vô
cùng sâu sắc, trí thức và chững chạc, vạch ra cái ý đồ, cái bất lương
của những tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." mà ông cho
là của "Nhóm Giao Điểm". Bài đó nay được dùng làm phần
mở đầu cho cuốn "Ngón Tay và Mặt Trăng". Tuy không cần thiết
đối với ông Tri, nhưng bài phân tích sau đây có thể giúp cho những độc
giả đã đọc cuốn "Đối Thoại.." cũng như những độc giả
tha thiết tới một vấn nạn nhức nhối của dân tộc, có một cái nhìn rộng
rãi và chính xác về một số luận điểm và ý kiến của ông Đỗ Mạnh
Tri trong cuốn "Ngón Tay Và Mặt Trăng".
Thú thực, đây là lần đầu tiên
tôi được đọc một văn phong tương đối nghiêm chỉnh từ một trí thức
Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-Ma (Roman Catholicism). Tôi thích dùng từ này của
Đỗ Thuận Khiêm để chỉ Công Giáo và trong bài này tôi xin dịch
Christianity là Ki-Tô Giáo, nguồn gốc chung của Ca-Tô Giáo Rô-Ma, Tin Lành
(Protestantism) , và Chính thống giáo (Orthodox Christianity). Đây cũng là lần
đầu tiên tôi thấy một kiến thức khá rộng rãi, trong đó có những tư
tưởng cởi mở đáng kính phục. Nhưng đọc kỹ thì tôi thấy những lời
lẽ cởi mở này chỉ là lớp sơn ngoài che dấu một cái gì ở bên trong,
và mục đích chính là để lạc dẫn người đọc, vì chúng không phản
ánh sự thực mà tất cả chỉ là những cảm tính, ý kiến cá nhân, không
phù hợp với sự hiểu biết của con người về các vấn đề liên hệ.
Và điều đáng tiếc nhất là cái kiến thức rộng rãi của ông mang nặng
ảnh hưởng của một quá trình đào luyện trong cái nôi của Ca-Tô Giáo
Rô-Ma, cho nên trong nhiều đoạn, tác giả đã làm mất đi tính cách thuyết
phục của những lý luận, vì tác giả đã dựa nhiều vào cảm tính
riêng, vào những trích dẫn từ Thánh Kinh, nhiều khi ngoài toàn bộ vấn đề
(out of context), coi đó là những chân lý tuyệt đối mà người nào cũng phải
tin và chấp nhận. Cho nên ông Tri đã đưa ra những lời khẳng định chắc
nịch như Thiên Chúa thế này, Thiên Chúa thế nọ, Giêsu đúng là con Thiên
Chúa giáng trần, đã thắng được sự chết, v...v.., những điều mà ông
tin là sự thực vì đã được dạy như vậy từ nhỏ, tất cả đều là
những khẳng định dựa vào một niềm tin tôn giáo mà ông cho là một
cách sống chết, không cần biết, không cần hiểu. Đọc cuốn sách của
tác giả tôi cảm thấy rất quen thuộc vì tôi đã đọc khá nhiều lý luận
của các nhà bảo vệ tín lý Ca-Tô Giáo Rô-Ma. về cách giải thích Thánh
Kinh cho phù hợp với những tiến bộ của khoa học và văn minh của nhân
loại, về cách trích dẫn Thánh Kinh ngoài toàn bộ vấn đề (out of
context), về cách diễn giải những chuyện trong Thánh Kinh mà nội dung
không có lợi cho tư cách của Chúa Jesus, về cách mượn những tư tưởng
của các tôn giáo khác mà họ chỉ hiểu một cách phiến diện, hời hợt
v...v... Đó là những nhận xét tổng quát của tôi về cuốn "Ngón
Tay và Mặt Trăng" của ông Đỗ Mạnh Tri. Sau đây tôi sẽ đi vào
phần phân tích một số điểm trong cuốn sách để chứng minh những nhận
xét trên. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể nào phân tích đầy đủ tất cả những
luận điểm nằm trong cuốn sách, vì như vậy tôi cần viết một cuốn
dày gấp ba. Cho nên, tôi chỉ luận những điểm mà tôi cho là đáng để tôi
phê bình, phần lớn những luận điểm này thuộc lãnh vực luận lý
(logic), hoặc lãnh vực hiểu biết, trong ánh sáng của những tài liệu hiện
hữu và của sự phân tích khoa học.
Đại cương thì khi viết cuốn "Ngón
Tay và Mặt Trăng" ông Đỗ Mạnh Tri đã vấp phải bốn sai lầm căn
bản, ngoài những sai lầm khác thuộc về lịch sử và nhận thức các sự
kiện lịch sử.
Điểm sai lầm quan trọng và căn bản
đầu tiên của Ông Đỗ Mạnh Tri, cũng như của Đất Mẹ và ông
Nguyễn Văn Chức, là cho rằng các tác giả viết trong cuốn "Đối
Thoại.." thuộc một nhóm mà họ gọi là "nhóm Giao Điểm"
và viết trong tuyển tập với một ý đồ nhất quán. Và từ cái giả định
sai lầm này ông đã đi đến những kết luận sai lầm. Chứng minh?
Ông Đỗ Mạnh Tri mở đầu cuốn sách
như sau:
"Tuyển tập của Giao Điểm
gồm 18 tác giả Việt Nam. 12 tại Hoa Kỳ (trong số này 7 tại Cali), 1 ở
Saigon, 1 ở Đan Mạch, 1 ở Úc, 3 ở Pháp".
Chi tiết này nói lên một sự kiện:
những tác giả ở các nơi khác nhau trên thế giới viết trong tuyển tập
chỉ là những cá nhân đáp lại lời kêu gọi của Giao Điểm viết về những
phản ứng cá nhân và cách tiếp cận vấn đề khi đọc cuốn "Bước
Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (BQNCHV) của John Paul II. Nếu tôi không lầm
thì Giao Điểm đã gửi thư mời khoảng 50 người viết cho tuyển tập,
nhưng chỉ có độ 20 người đáp ứng. Như vậy, cho rằng có một nhóm
Giao Điểm với một ý đồ rõ rệt, nhất quán, thì đó chỉ là một tiên
kiến, hoặc là một sự cố ý dựng lên một người rơm để mà có cái
quật xuống, và đây mới chính là một ý đồ rõ rệt khi người ta không
thể phản bác những luận cứ bàn về những chủ đề nêu ra trong cuốn "Đối
Thoại.."
Chính bản thân tôi, khi nhận lời
viết cho tuyển tập, tôi không hề biết là ai sẽ viết cho tuyển tập,
và trong số những tác giả viết trong tuyển tập có rất nhiều người tôi
chưa từng gặp mặt hay liên lạc, và chỉ mới biết một vài người sau
khi tuyển tập ra đời. Điều này chứng tỏ những người viết trong tuyển
tập không thuộc một nhóm nào hết, và cuốn "Đối Thoại.."
chẳng qua chỉ là một tập hợp những bài viết của những người đáp
ứng lời mời của Giao Điểm, những người cảm thấy mình có trách nhiệm
nói lên một tiếng nói trước một vấn đề thời đại để giải hoặc.
Đây là một sắc thái đặc thù của Phật Giáo Việt Nam: Phật Giáo Việt
Nam không có một tổ chức chặt chẽ, không có một giáo hội toàn trị,
không có sự chỉ đạo văn hóa hay kiểm duyệt, nhưng khi cần thì Phật tử
luôn luôn kết hợp với nhau, kết hợp trí thức chứ không phải là kết
bè kết đảng hay kết nhóm, để hoạt động cho mục đích chung. Lịch sử
đã chứng minh như vậy trong nhiều giai đoạn thăng trầm của đất nước.
Điểm sai lầm quan trọng thứ hai là
ông Đỗ Mạnh Tri phân tích "Lời Mở Đầu" trong cuốn "Đối
Thoại..." , một sự phân tích dưa trên một mặc cảm, phần nhiều
sai lạc vì không nắm được ý trong "Lời Mở Đầu", và
dùng tiểu xảo trích dẫn vài đoạn nằm ngoài toàn bộ vấn đề rồi từ
đó suy diễn ra một ý đồ của cái gọi là "nhóm Giao Điểm".
Ông viết:
"Nội dung chủ yếu của cuốn
sách trình bày ngay trong lời mở đầu."
Nhận định như vậy là hoàn toàn
sai. Nhận định như vậy là dựa trên một tiền đề hoang tưởng: có một
nhóm gọi là nhóm Giao Điểm gồm các tác giả viết trong "Đối Thoại..",
và cuốn "Đối Thoại.." có một nội dung nhất quán. Từ giả
định sai lầm này ông Tri đã đi đến kết luận là nội dung chủ yếu của
cuốn "Đối Thoại.." nằm trong lời mở đầu, trong khi 18 bài
viết trong cuốn "Đối Thoại.." có 18 nội dung khác nhau. Thật
ra lời mở đầu là của Giao Điểm và phần lớn nói về lý do và mục đích
thực hiện tuyển tập chứ không tóm tắt nội dung các bài viết trong tuyển
tập, một điều khó có thể thực hiện vì cấu trúc đặc biệt của cuốn
"Đối Thoại.."
Thật vậy, đọc cuốn "Đối
Thoại.." , người đọc nhận thấy ngay là cuốn này không có một
nội dung nhất quán, văn phong không đồng đều, cách tiếp cận vấn đề
hoàn toàn khác nhau, không luận trên cùng một chủ đề. Có thể nói, mỗi
bài trong cuốn "Đối Thoại.." có một nội dung riêng biệt,
phản ánh phản ứng và cách tiếp cận vấn đề của mỗi tác giả khi đọc
cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" của John Paul II. Cho nên,
với cấu trúc như vậy, ta chỉ có thể nói đến nội dung của mỗi bài
chứ không thể nói đến nội dung của cả cuốn sách. Đây là một điểm
yếu của cuốn "Đối Thoại.." nhưng lại là điểm son của
Giao Điểm, vì Giao Điểm đã tôn trọng quyền tự do trí thức của các
tác giả, để cho các tác giả tự do trình bày quan điểm của mình mà
không bị gò bó trong một chủ đề nhất định, hay là phải viết dưới
sự chỉ đạo của Giao Điểm. Do đó, trong lời mở đầu, Giao Điểm đã
viết rất đúng trong lời giới thiệu tổng quát sau đây:
"..tuyển tập chỉ giới hạn
trong những nhận thức cá nhân của một số học giả Việt Nam về những
quan điểm của Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II khi đề cập đến đạo Phật mà
thôi."
Câu này không cho chúng ta biết nội
dung các bài trong tuyển tập và độc giả sẽ không thể biết gì về nội
dung các bài này nếu không đọc chúng.
Nhưng ông Đỗ Mạnh Tri đã dựa
vào câu trên để đưa ra một nhận xét như sau:
"Thật ra trong tác phẩm, các
tác giả không tự hạn chế vào điểm này. Chẳng những thế, nhiều khi
nó chỉ là một cái cớ để các tác giả bàn về rất nhiều chuyện khác
và đặt một loạt vấn đề; những vấn đề hóc búa nan giải như thời
gian, không gian, thiện ác, triết lý Đông Tây, hữu hạn vô hạn..., những
vấn đề liên quan đến lịch sử KiTô giáo; đến Kinh Thánh và tính phản
khoa học của Kinh Thánh, nhất là những tội ác của KiTô giáo. Ngoài ra người
đọc vô tư có thể bỡ ngỡ thấy nêu những vấn đề xa lạ với chủ đề
của tập sách như dư đảng Cần Lao, chuyện chống Phật Giáo (?) ở hải
ngoại."
Nhận xét trên của ông Tri có thể
đúng một phần vì có những chi tiết xa lạ với chủ đề, nhưng những
chi tiết này chỉ là những chuyện ngoài lề và chiếm một tỷ lệ nhỏ
nhoi không đáng kể, còn phần lớn nội dung các bài trong cuốn "Đối
Thoại..." quả thực đã phản ánh nhận thức cá nhân trước những
lời phê bình của Giáo Hoàng về Đức Phật và Phật Giáo. Trong những nhận
thức này, mỗi tác giả có một cách tiếp cận vấn đề riêng, nhìn vấn
đề dưới một góc cạnh riêng, và trình bày tư tưởng của mình một
cách riêng biệt, độc lập, không có sự chi phối hay chỉ đạo của bất
cứ ai khác. Nhiều khi, trong khi trình bày vấn đề, người viết không thể
tránh được việc khai triển chủ đề vì vấn đề này kéo theo vấn đề
khác. Một thí dụ điển hình: Giáo Hoàng đã dựa vào Thánh Kinh và những
tín lý trong CaTô Giáo Rô Ma để viết về Đức Phật và Phật Giáo. Vậy
khi bình luận về những quan điểm này, khó mà có thể tránh không nói tới
các tín lý trong CaTô gIáo Rô Ma hay tới Thánh Kinh. Một thí dụ điển hình
khác: Cũng trong chương nói về Đức Phật và Phật Giáo, Giáo Hoàng nói về
khoa thần bí KiTô giáo xây dựng Giáo hội thành một công đoàn của đức
ái, và rằng những thành quả của khoa học và kỹ thuật đã đồng thời
đâm rễ sâu trong Mạc Khải của KiTô giáo, thì khi bình luận về những
điều nhận vơ này chúng ta không tránh khỏi việc xét đến lịch sử chứa
đầy tội ác của Ki Tô giáo, phản ánh cái "đức ái" đặc biệt
của KiTô Giáo, cái đức ái đã gây nên những cảnh xương chất thành
núi, máu chảy thành sông trong lịch sử loài người, cũng như những điều
mạc khải mù tịt về khoa học trong Thánh Kinh và chính sách chống khoa học
của Giáo hội KiTô. Và đây là những sự kiện lịch sử, không phải là
những luận cứ vu vơ đưa ra cốt chỉ để phản bác những lời nhận vơ
của Giáo Hội. Sự khai triển các chủ đề như trên là điều cần thiết
trong nghệ thuật thảo luận để bảo vệ những luận cứ đưa ra chứ không
phải vin vào một cớ nào, vì thực ra, nếu định tâm công kích thì thiếu
gì cớ mà phải dựa vào từ "đối thoại". Cho nên, không thể
lên án là một số luận điểm như trên đã đi xa chủ đề, vì những luận
điểm này có mục đích khai triển và làm sáng tỏ vấn đề.
Sau đó ông Đỗ Mạnh Tri bàn về
danh từ "đối thoại.." và viết như sau:
"Tại sao Giao Điểm muốn
"đối thoại" với Gioan Phaolô II? Có ba lý do:
1. Đối thoại là bước đầu của
hoà bình và phát triển.
2. Đối thoại để tìm chân lý.
3. Lý do thiết thân nhất của Giao
Điểm là hoàn cảnh Việt Nam. Cả ba lý do đều dễ hiểu.
Nhưng tại sao tôi thấy bị khựng
lại ngay từ những trang mở đầu? Tôi không hiểu từ "đối thoại"
ở đây có nghĩa gì?
Tha thiết với hòa bình và phát triển,
cho rằng muốn tiến tới đó phải khởi đầu bằng đối thoại, thật chí
lý...Nhưng sao lời lẽ không đi đôi với thiện ý? Theo nhận xét của Giao
Điểm, Giáo Hoàng "đã ngoạn mục hé mở cánh cửa đối thoại" và
"Do đó, Giao Điểm sẽ mở toang cánh cửa" đó ra. Đã hé mở lại
hé mở cách ngoạn mục. Hiểu thế nào đây? Bình thường, nếu người ta
chỉ hé mở thì mình bỏ qua, không nên mở toang như muốn xông vào. Làm vậy
không tường xứng với thái độ người quân tử, càng không phù hợp với
người Phật tử vốn không ưa tranh chấp."
"Tôi không hiểu từ "đối
thoại" ở đây có nghĩa gì?" là một khẳng định của ông Đỗ Mạnh
Tri, không phải là một câu hỏi. Trên nguyên tắc, câu này không đòi hỏi
một sự giải thích hay trả lời, nhưng tôi muốn bàn về cái thắc mắc
này của ông.
Hiểu từ "đối thoại"
như thế nào tùy thuộc ở tâm cảnh và trình độ của người đọc. Đối
với một số tín đồ Việt Nam của CaTô Giáo Rô-Ma thì "đối thoại"
với Giáo Hoàng là một chuyện không tưởng, vì trong tôn giáo này không
làm gì có chuyện các tín đồ đối thoại với Đức Thánh Cha, mà chỉ
có chuyện tuân phục những Tông Huấn của Ngài. Thí dụ: theo ông Nguyễn
văn Chức, một đại trí thức CaTô Việt Nam, thì "đối thoại" với
Giáo Hoàng là mang tội bất kính, là phường vô lại hay vô giáo dục (Xin
đọc bài "Một Khuôn Mặt Siêu Việt Trong Một Thế Giới Hữu Hạn:
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II", Thế Giới Ngày Nay, số 139, trg. 51).
Quan niệm này phản ánh tâm cảnh của một thuộc hạ nô lệ tôn giáo thời
Trung Cổ, cái tâm cảnh có một khuyết tật (an astrolabe mind) theo nghĩa có
thể có những kiến thức về các lãnh vực khác của thế kỷ 20, nhưng riêng
về lãnh vực tôn giáo thì vẫn giữ một kiến thức của thời Trung Cổ,
không hề biết đến hoặc không thể chấp nhận những sự tiến bộ và
diễn biến xã hội của nhân loại về vấn đề tôn giáo. Ở trong những
xã hội Âu Mỹ ngày nay, tín đồ CaTô không những đối thoại với Giáo
Hoàng mà còn công khai chất vấn Ngài về những tín lý lỗi thời của
CaTô Giáo Rô Ma, cùng công khai chống đối chỉ trích Giáo Hoàng về những
hành động chính trị của Ngài. Chứng minh?
1. Một số phụ nữ Mỹ đã "đón
tiếp" Giáo Hoàng bằng biểu ngữ "Hãy để những bài tán tụng
Mary của Ngài ở ngoài buồng trứng của chúng tôi" (Keep your
rosaries out of our ovaries) để phản đối tín điều cấm dùng thuốc ngừa
thai của Vatican.
2. Một sinh viên đã "lên lớp"
Giáo Hoàng John Paul II ngay giữa công trường Thánh Phêrô về vụ Giáo
Hoàng tiếp Cựu Thủ Tướng Ý là Giulio Andreotti đang bị xử như là một
Mafia. Các viên chức của Giáo Hội từ chối không bình luận về vụ này.
("The Orlando Sentinel", Dec. 14, 1995: 'Student Upbraids Pope, Leaving Vatican
Stunned': Vatican City - After an unprecedented scene in St. Peter's Basilica in which a
student "lectured" Pope John Paul II about a meeting with Italy's former Prime
Minister, on trial for Mafia charges, Catholic Church officials Wednesday refused all
comment.)
3. Hàng trăm thanh niên Đức ở Bá
Linh đã gào lên những lời như "Hãy xuống Địa Ngục" và "Hãy
thiêu sống Giáo Hoàng" vào mặt Giáo Hoàng và ném sơn vào xe
Popemobile của Ngài ("The Orlando Sentinel", June 24, 1996: Hundreds of young
anarchists from Berlin's lively underground scene screamed "Go to Hell" and
"Burn the Pope" as the Polish pontiff, 76, rode toward the Brandenburg Gate in
his pearl-white popemobile. Two paint bags hit the vehicle). Cho nên, viết như ông Chức
viết như trên thực sự đã để hiển lộ tâm cảnh của một thuộc hạ
nô lệ, và ông cũng không nghĩ ra điều: tại sao một người phi CaTô lại
phải kính trọng một người đã có những nhận định lắt léo đầy ác
ý về tôn giáo của họ? (sẽ chứng minh trong một đoạn sau). Và khi Giáo
hoàng "đối thoại" với những nhà truyền giáo Tin Lành bằng cách
gọi họ là những "con chó sói đói mồi", phản ánh một trình độ
đạo đức tôn giáo đặc thù của vị chủ chăn Ca Tô Giáo Rô Ma, thì ông
Nguyễn Văn Chức nên xếp Giáo hoàng vào đẳng loại nào, với trình độ
giáo dục như thế nào?
Một mặt khác, riêng đối với các
Phật tử đã nằm lòng câu "Quách nhiên vô Thánh" và "Thánh
Phàm như một" trong Phật giáo, thì đối thoại với "Đức Thánh
Cha" là chuyện tự nhiên như tất cả các chuyện tự nhiên khác trên
thế giới, nhất là khi Đức Thánh Cha lại viết những câu rất trần tục
và vô nghĩa về Phật Giáo. Và những lời lẽ viết trong cuốn "Đối
Thoại..", so với lời Giáo Hoàng gọi những nhà truyền giáo Tin
Lành ở Nam Mỹ là "những con chó sói đói mồi", thì còn lịch sự
và nhã nhặn hơn nhiều. Kết luận: chúng ta không thể lấy tư cách của một
thuộc hạ nô lệ để phê phán tư cách của một con người tôn trọng
tinh thần tự do và bình đẳng.
Đối với một tín đồ CaTô, nhất
là những người có cùng tâm cảnh của một thuộc hạ như trên, thì bất
cứ ai viết ra những sự kiện về CaTô giáo mà họ không thể tin sự thực
nó là như vậy, vì họ đã được nhồi vào óc từ nhỏ những hình ảnh
ngụy tạo trái với sự thực, những sự kiện không hợp với trình độ
hiểu biết của họ, thì đương nhiên phải là không có thiện ý. Họ
không phân biệt nổi giữa một cuộc đối thoại nghiêm chỉnh với những
tài liệu dẫn chứng bất khả phủ bác của những chức sắc CaTô và các
học giả CaTô, và những điều vu khống vu vơ để đả kích. Thiện ý,
theo ý họ, là người ngoại đạo chỉ có quyền nghe, còn các "Cha nhà
thờ" thì tha hồ nói.
Thật ra thì chính tôi là người đã
tự ý đổi lại chủ đề "Đối Thoại" của tuyển tập thành
"Nhận Định..." khi viết bài "Bước Qua Ngưỡng Cửa Vô
Minh" đăng trong tuyển tập. Không phải vì từ "đối thoại"
không khớp mà vì không thể thực hiện, xét về mặt thực tế, chứ
không phải là tôi "từ khước" đối thoại như ông Tri đã lên
án tôi ở trong cuốn sách của ông. Tôi đã đưa ra 4 lý do không thể có
cuộc đối thoại với GH John Paul II. 4 lý do tôi đưa ra đều rất sát với
thực tế và dựa trên sự thực, mà sự thực thì nhiều khi hơi phũ phàng,
cho nên có làm phật ý ông Tri thì cũng là điều dễ hiểu thôi.
Nhưng khi cuốn "Đối Thoại..."
ra đời, đọc lời nói đầu của Giao Điểm tôi đã hiểu dụng ý của
Giao Điểm khi dùng từ "Đối Thoại" và đây chính là một điểm
son của Giao Điểm. Tôi nghĩ rằng không phải Giao Điểm không biết đến
cái nghĩa thông thường của từ "Đối Thoại" trong tinh thần bao
dung tôn giáo, nhưng Giao Điểm cũng thừa biết Giáo hội CaTô Giáo Rô Ma chưa
bao giờ thực sự đi vào con đường Đối Thoại một cách thành thực (Đã
được chứng minh trong bài "Cái Nhìn Của 1 Phật Tử Về Vấn Đề
"Hợp Tác Tôn Giáo"", đăng trên nhiều tạp chí hải ngoại),
cho nên Giao Điểm đã dùng cái nghĩa rộng và tổng quát hơn của từ
"Đối Thoại": "Một sự trao đổi những ý kiến và quan niệm"
(An exchange of ideas and opinions: The American Heritage Dictionary) để đưa ra một
khẳng định về một thái độ, một lập trường. Lập trường này toát
ra một tinh thần dân tộc, đó là tinh thần vô úy, bình đẳng của trí tuệ
Phật Giáo.
Dùng từ "đối thoại",
Giao Điểm, với tinh thần vô úy của Phật Giáo, đã đứng trên một vị
thế bình đẳng để nói lên tiếng nói của mình. Chúng ta đều biết rằng,
trong lịch sử cận đại Việt Nam, CaTô Giáo Rô Ma mà số tín đồ chỉ vào
khoảng từ 5 tới 7 phần trăm dân số Việt Nam, đã dựa vào thế lực thực
dân, thế lực của Tòa Thánh liên kết với thế lực tư bản, để leo lên
địa vị độc quyền tôn giáo. Phật Giáo, tôn giáo của dân tộc, dưới
sự áp bức của Thực dân và tay sai CaTô, chỉ được coi như một hiệp hội.
Do đó, quyền lực của CaTô Giáo Rô Ma ở Việt Nam, nấp bóng thực dân
và tư bản, đã khiến cho một số người dân e ngại trong thời kỳ nước
nhà bị Pháp đô hộ và dưới chính thể độc tài với chủ trương diệt
mọi tôn giáo khác để mở mang nước Chúa ở miền Nam Việt Nam của Ngô
Đình Diệm. Cho nên, Giao Điểm đưa ra từ "Đối Thoại" để phá
vỡ những e ngại còn sót lại trong dân gian Việt Nam đối với quyền lực
của CaTô Giáo Rô Ma, đồng thời khẳng định một "chối bỏ dứt khoát"
của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, đáp thẳng vào câu "Điều
mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc
chối bỏ" của John Paul II trong cuốn BQNCHV. Chưa kể là cái "điều
mạc khải dứt khoát này" John Paul II cũng chỉ khẳng định khơi khơi
vậy thôi chứ không có nghĩa là chính Thượng Đế đã mạc khải cho JPII.
Tôi hiểu dụng ý của Giao Điểm đại khái là như vậy, hi vọng cái hiểu
của tôi, tuy thiếu sót, nhưng không sai với sự thực là bao.
Điểm sai lầm quan trọng và căn bản
thứ ba mà ông Đỗ Mạnh Tri phạm phải là ông viết sách phê bình các
tác giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." trong khi ông chưa hề đọc
cuốn "Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" (BQNCHV) của John Paul II như
ông đã thú nhận trong "Lời Đầu" của cuốn sách. Vì chưa đọc
cuốn "BQNCHV" cho nên những lời phê bình của ông về những tác
giả viết trong cuốn "Đối Thoại.." trở thành vô căn cứ, không
có giá trị thuyết phục, vì độc giả có thể thấy rằng đây chẳng qua
chỉ là phản ứng cá nhân của một tín đồ CaTô để biện hộ cho Giáo
Hoàng của mình và cho một cuốn sách mà ông... chưa đọc.
Thật vậy, ông Đỗ Mạnh Tri bàn về
chủ đề "Đối thoại để tìm chân lý" và viết:
"Con đường dẫn tới chân lý
có lẽ trước hết là con đường giúp ta trút bỏ những lầm lẫn."
Rồi ông biện hộ cho Giáo Hoàng bằng
lý luận sau đây:
Ông trích dẫn một đoạn viết về
Phật Giáo của học giả Đào Duy Anh trong cuốn "Việt Nam Văn Hóa Sử
Cương" rồi lý luận rằng:
"Đức Phật yếm thế, đạo Phật
tiêu cực. Chắc các bạn không đồng ý với Đào Duy Anh cũng như các bạn
không đồng ý với Gioan Phaolo II khi Ngài khẳng định rằng truyền thống
Phật Giáo "đưa ra một nền thần học cứu rỗi hầu như độc nhất
tiêu cực". Đức Giáo Chủ, cũng như học giả Đào Duy Anh, có thể
có ngộ nhận khi nói về Phật Giáo. Nhưng ngộ nhận liên quan đến sự hiểu
biết, đó là vấp váp hay lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay
thiếu học hỏi. Xuyên tạc là việc làm có ý thức của kẻ có ác ý. Muốn
đối thoại mà cho rằng người đối diện với mình có ác ý tức là từ
khước đối thoại và viện cớ đối thoại để bút chiến."
Thứ nhât, ông Đỗ Mạnh Tri viết
không sai: "Con đường dẫn tới chân lý có lẽ trước hết là con đường
giúp ta trút bỏ những lầm lẫn." Phần lớn những bài viết trong cuốn
"Đối Thoại.." không ngoài mục đích này. Giáo Hoàng đã có những
nhận định sai lầm về Đức Phật và Phật Giáo, điều này nay đã rõ
ràng, đại diện của Giáo Hoàng đã xin lỗi Phật Giáo. Vì chưa đọc cuốn
BQNCHV nên ông Tri không thể thấy được rằng những bài trong cuốn "Đối
Thoại.." phần lớn chẳng qua cũng chỉ là khai triển chi tiết về
những lầm lẫn của Giáo Hoàng khi viết về Đức Phật và Phật Giáo. Như
vậy chính là để giúp cho Giáo Hoàng trút bỏ những lầm lẫn. Có trút
được hay không lại là chuyện khác. Và đây là thiện ý của những người
tham gia viết cho tuyển tập, cho nên, thay vì trách các tác giả viết trong "Đối
Thoại..", ông Đỗ Mạnh Tri nên cám ơn những tác giả này mới phải.
Thứ nhì, không nên so sánh Đào Duy
Anh với Giáo Hoàng. Đào Duy Anh chỉ là một học giả, đơn phương viết
cuốn "Việt Nam Văn Hóa Sử Cương", có viết sai lầm về Đức
Phật và Phật Giáo cũng chẳng ai buồn để ý. Cũng như, từ trước tới
nay, có biết bao nhiêu ngộ nhận và cố ý xuyên tạc về Phật Giáo do các
nhà truyền giáo CaTô phổ biến nhưng cũng chẳng có ai để ý và phản
bác. Và ngay cả gần đây, trước lời phê bình rất hạ cấp và có tính
cách xuyên tạc, dè bỉu Phật Giáo của Hồng Y Ratzinger, người đứng đầu
một cơ quan hậu thân của những Tòa Án xử Dị Giáo, và là cố vấn
thân cận nhất của GH JPII, cũng chẳng có ai để ý và phê bình. Tôi
không dịch, xin để nguyên văn để cho các bậc trí thức CaTô Việt Nam dịch
sao để có thể biện hộ cho tư cách và đạo đức tôn giáo của Hồng Y
Ratzinger. (Time, April 7, 1997, p. 21, VERBATIM: "Buddhism is a sort of spiritual
autoeroticism" - Joseph Cardinal Ratzinger, one of the Pope's closest advisor, in the
French weekly L'Express). Nhưng, Giáo Hoàng là vị chủ chăn của một tôn giáo
lớn trên hoàn cầu, Ngài có cả một bộ tham mưu gồm những bộ óc thượng
thặng của các Hồng Y trong đó Ratzinger là một, Tổng Giám Mục v...v... cố
vấn Ngài về bất cứ vấn đề nào trên thế giới. Ở một vị thế như
vậy Giáo Hoàng không thể viết càn về Giáo Chủ và tôn giáo của một
tôn giáo lớn khác trên thế giới mà không tìm hiểu cặn kẽ về các vấn
đề liên hệ trước, nhất là trong khi Tòa Thánh Vatican đã "ngoạn
mục hé mở cánh cửa đối thoại", ngoạn mục vì từ trước tới
nay, Giáo hội CaTô Giáo Rô Ma tự nhận là Giáo hội chân thật duy nhất
trên thế giới, và cho rằng các tôn giáo khác chỉ có thể quỳ phục dưới
chân Thánh giá của CaTô. Ngộ được, dù chỉ một phần nhỏ, cái tính chất
đa dạng, đa tôn giáo của thế giới ngày nay, kể ra cũng là ngoạn mục rồi.
Và Giao Điểm, khi "mở toang cánh cửa đối thoại" này, cũng
không có mục đích nào khác hơn là làm cho sự "đối thoại" ngoạn
mục hơn, nghĩa là giúp cho Giáo hoàng tỉnh ngộ hơn một chút. Đối thoại
không chỉ thu hẹp trong mục đích hòa hợp tôn giáo bề ngoài mà là một
phương tiện chính để soi sáng sự thật (Plato).
Thứ ba, ông ĐMT trách Giao Điểm là
không tin ở thiện chí của Giáo Hoàng vì Giao Điểm cho rằng "thậm
chí có trường hợp Giáo Hoàng còn xuyên tạc nội dung Giáo Pháp của đạo
Phật" và do đó, chỉ mượn cớ đối thoại để bút chiến. Tôi
không trách ông ĐMT đã trách lầm Giao Điểm vì ông đã khẳng định là
chưa đọc tác phẩm BQNCHV của John Paul II trong "Lời Đầu" của cuốn
sách. Nếu ông đã đọc tác phẩm BQNCHV thì ông sẽ thấy nhận định của
Giao Điểm không sai, nghĩa là thực sự John Paul II đã cố ý xuyên tạc
Giáo Pháp của đạo Phật. Sự xuyên tạc này nằm trong chính câu ông ĐMT
viết ở trên: "..khi Ngài khẳng định rằng truyền thống Phật Giáo
đưa ra "một nền thần học cứu rỗi hầu như độc nhất tiêu cực."
Ai cũng biết Phật Giáo là một đạo
Giác Ngộ, không phải là một đạo cứu rỗi, cho nên nói về một nền "thần
học cứu rỗi" trong Phật Giáo cũng như nói về "lông rùa"
hay "sừng thỏ". Để cho vấn đề rõ ràng hơn, chúng ta hãy đi vào
nguyên bản bằng tiếng Anh: "Nevertheless, both the Buddhist tradition and the
methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology" mà tôi dịch
là: "Tuy nhiên, truyền thống Phật giáo và những phương pháp tu tập dẫn
xuất từ đó, cả hai đều có hầu như đơn độc một "thuyết cứu rỗi
qua Chúa Ki-Tô" (soteriology) tiêu cực." Theo tự điển thì Soteriology
có nghĩa là: "Một ngành trong môn thần học về giáo lý cứu rỗi
qua Chúa Ki-Tô" (Soteriology = A branch of theology concerned with the doctrine
of salvation through Christ) và theo định nghĩa chính thức của CaTô Giáo Rô
Ma trong cuốn Catholic Word Book do Catholic Information Service, Knights of Columbus,
New Haven, Connecticut, xuất bản, thì Soteriology có nghĩa là: "Bộ môn
Thần học khảo sát về nhiệm vụ và công cuộc của Chúa Ki-Tô như là Đấng
Cứu Rỗi" (Soteriology = The division of Theology which treats of the mission
and work of Christ as Redeemer). Từ những định nghĩa này chúng ta có thể thấy
ngay rằng từ "soteriology" không thể có trên thế gian trước khi Chúa
Con về chầu Chúa Cha. Để biện hộ cho JPII, chúng ta có thể cho rằng JPII
không hiểu rõ nghĩa của từ "Soteriology". Nhưng, cho rằng Giáo
Hoàng CaTô Giáo Rô Ma không hiểu nghĩa của từ Soteriology thì cũng như cho
rằng Ngài không tin gì ở Chúa Giê Su. Cho nên, chúng ta phải kết luận như
thế nào, tôi xin thỉnh ý ông Đỗ Mạnh Tri. Thứ đến, trong Phật Giáo
có cái gì gọi là Soteriology hay không? Phật Giáo ra đời trước khi Chúa
Ki-Tô sinh ra đời cả hơn 500 năm, vậy bằng cách nào mà Phật Giáo đưa
ra "một nền thần học cứu rỗi qua Chúa Ki-Tô" độc nhất tiêu cực?
Vậy tại sao JPII lại viết như trên khi mà nền thần học cứu rỗi này
chỉ xuất hiện trên thế gian hơn 500 năm sau khi Phật Giáo ra đời ? Đây
là một ngộ nhận do sự lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay
thiếu học hỏi như ông ĐMT đã viết, hay là một sự cố ý xuyên tạc để
đe dọa đám con chiên kém hiểu biết: đừng có theo Phật Giáo vì theo Phật
Giáo là không được Chúa Ki-Tô cứu rỗi đâu đấy? Đây là một thủ đoạn
chính trị theo chủ thuyết Machiavelli, chỉ cốt đạt được mục đích bất
kể đạo đức tôn giáo. Cái thủ đoạn này không dừng ở câu trên, mà
còn tiếp tục trong vài câu tiếp theo, những câu hoàn toàn vô nghĩa và ngớ
ngẩn, ít ra là đối với các Phật tử:
"Chúng ta có thể tới gần
Thượng Đế bằng con đường này không? Điều này không được nói tới
trong sự "giác ngộ" thông truyền bởi Đức Phật". Phật Giáo
đại để là một hệ thống "vô thần"" (Do we draw near to
God in this way? This is not mentioned in the "enlightenment" conveyed by
Buddha. Buddhism is in large measure an "atheistic" system).
Thượng đế chỉ là một quan niệm
(concept), không phải là một khái niệm (notion), về tín ngưỡng tôn giáo,
còn "giác ngộ" là một trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn,
vì chỉ có người đã thực chứng, ngộ Đạo mới biết "giác ngộ"
như thế nào, Giáo Hoàng biết gì về sự "Giác Ngộ" của Đức Phật
mà dám bình luận về trạng thái tâm linh không thể nghĩ bàn, vượt qua mọi
đối đãi nhị nguyên, Thánh (Thượng đế) phàm như một này. Chẳng vậy
mà Linh Mục Gia Tô Thomas Hand đã phàn nàn: Ông ước mong Giáo Hoàng "có
thể nói về Phật Giáo dựa vào kinh nghiệm bản thân. Ta không thể nói về
bất cứ cái gì sâu sắc hiển nhiên như Phật Giáo mà không tự mình đi vào
trong đó" (Rev. Thomas Hand, a Catholic priest, said he wished the pope
"were able to speak about Buddhism from experience. You can't speak about anything as
obviously profound as Buddhism without getting into it"). Tôi xin để cho các độc
giả tùy nghi nhận định về vấn đề này. Riêng tôi, tôi không tin rằng
đây là một sự lầm lẫn của một lý trí thiếu sáng suốt hay thiếu học
hỏi. Và, tới đây chúng ta đã hiểu tại sao Tỳ Kheo Nalin de Silva ở Tích
Lan lại cho rằng những lời nhận định của Giáo Hoàng về Phật Giáo là
lắt léo với ác ý. (A Federation member, Nalin de Silva, said the Pope's remarks
were malicious..)
Sau đó, ông Đỗ Mạnh Tri trích dẫn
một đoạn khá dài trong lời nói đầu của Giao Điểm về lý do thứ ba:
những sự kiện nhức nhối trong lịch sử cận đại Việt Nam, động cơ
thúc đẩy Giao Điểm thực hiện cuốn "Đối Thoại..". Ông Đỗ Mạnh
Trí không hề phân tích và phê bình về những sự kiện lịch sử và hoàn
cảnh Việt Nam trong thời cận đại mà Giao Điểm đưa ra là đúng hay
không đúng. Ông suy diễn một cách hoang tưởng từ những sự thực bất
khả phản bác về vai trò của Thiên Chúa Giáo trong lịch sử cận đại Việt
Nam ra một ý đồ tưởng tượng của cái mà ông gọi là "nhóm Giao Điểm".
Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của ông Đỗ Mạnh Trí:
"..Và dù có ngu lắm anh cũng
không thể không hiểu rằng, muốn trở về với dân tộc, anh phải quay lưng
lại cái mà Giao Điểm gọi là "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc",
phải cực lực chống đối những cái hay những người đã gây ra "vết
thương chí tử" hoặc đương "xé nát thêm tình nghĩa đồng bào".
Nếu ngôn ngữ còn có ý nghĩa rõ
ràng Giao Điểm yêu cầu sáu triệu người công giáo Việt Nam phải chống
lại Giáo Hoàng, phải bỏ đạo Công giáo nếu họ còn chút tình đồng bào,
còn gắn bó với truyền thống văn hóa dân tộc, còn tha thiết với tiền
đồ tổ quốc, tóm lại, nếu họ muốn còn là người Việt! Ngôn ngữ đó,
thưa các bạn, dù sự kiện lịch sử, xã hội hiện tại và quá khứ thế
nào đi nữa, cân nhắc cho kỹ, vẫn là thứ ngôn ngữ cấm đạo. Đánh
giá ngôn ngữ đó, chỉ cần nhắc lại tiếng thở dài của Phan Bội Châu
khi nhà chí sĩ nói về việc cấm đạo thời xưa: "Than ôi! Thời đại
chưa khai hóa!""
Viết như vậy là ông Đỗ Mạnh
Tri đã dựng lên một người rơm để tự tay mình quật nó xuống đất. Tôi
sẽ chứng minh điều này, nhưng trước hết tôi hãy bình luận về câu đầu
trong đoạn trên. Trước hết, vấn đề là nếu có cái nào mà "vừa
phi dân tộc, vừa phản dân tộc" thì chúng ta có nên quay lưng lại
không, hay là chúng ta cứ tiếp tục đi theo con đường "vừa phi dân tộc,
vừa phản dân tộc". Phi dân tộc ở đây chúng ta cần hiểu là không
tương hợp với truyền thống dân tộc, và phản dân tộc là theo lệnh ngoại
bang hay hỗ trợ ngoại bang bằng những hành động phản bội quốc gia, có
phương hại đến chủ quyền của dân tộc, hoặc đặt quyền lợi dân tộc
sau quyền lợi tín ngưỡng riêng tư. Lịch sử cận đại Việt Nam đã chứng
tỏ cái nào là "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc". Thứ đến,
nếu có người nào hay thế lực nào tạo nên những "vết thương chí
tử" cho dân tộc Việt Nam hay có những hành động cụ thể "xé
nát thêm tình nghĩa đồng bào" thì chúng ta có nên chống người đó
hay thế lực đó hay không, hay là chúng ta theo lệnh người đó hay thế lực
đó để đâm sâu thêm vào vết thương chí tử hay xé nát thêm nữa tình
nghĩa đồng bào? Chúng ta phải có chọn lựa nào để trở về với dân tộc?
Vậy thì, có gì sai quấy khi Giao Điểm đưa ra trước tòa án lương tâm của
chúng ta một chọn lựa chính đáng?
Sau đến, nếu ngôn ngữ còn có ý
nghĩa, thì chúng ta phải hiểu rằng trong lời nói đầu, Giao Điểm chỉ trình
bày lý do đã đưa đến việc thực hiện cuốn "Đối Thoại..",
và những lý do này không phải là lời yêu cầu 6 triệu người Việt Nam
theo Ca Tô Giáo Rô Ma chống Giáo Hoàng hay bỏ đạo. Đó chỉ là điều suy
diễn lệch lạc của ông Đỗ Mạnh Tri dựa trên một mặc cảm, cái mặc
cảm "vừa phi dân tộc, vừa phản dân tộc", và có vẻ như
ông Đỗ Mạnh Tri không hiểu rõ về lịch sử Việt Nam cũng như truyền thống
dân tộc Việt Nam. Truyền thống Việt Nam chưa bao giờ cấm người dân Việt
Nam theo bất cứ một đạo nào chỉ vì lý do tôn giáo. Tinh thần Tam Giáo
Đồng Nguyên đã ăn sâu vào đầu óc con người Việt Nam, nhất là Phật tử,
cho nên cho rằng ngôn ngữ của Giao Điểm là một ngôn ngữ cấm đạo là
không hiểu gì về Phật Giáo nói riêng, truyền thống dân tộc nói chung,,
chưa kể đến chuyện cấm đạo dưới các triều Nguyễn không liên hệ
gì đến Phật Giáo. Thật vậy, dưới thời các triều Nguyễn, giới Nho sĩ
cầm quyền, và Phật Giáo cũng bị những khó khăn hạn chế như mọi tôn
giáo khác, nhưng chỉ có Ca Tô Giáo Rô Ma bị cấm đạo, điều này cho thấy
nguyên nhân cấm đạo không phải là lý do tôn giáo. Thực ra là cụ Phan sống
ở đầu thế kỷ 20, khi mà nước nhà đã bị Pháp đô hộ, nên những
thông tin về Ki Tô giáo dựa theo thực dân Pháp và tay sai về việc cấm đạo
rất là sai lạc và một chiều. Cho nên câu than của cụ Phan bắt nguồn từ
một tấm lòng bao dung và nhân từ, chứ không phải từ những thông tin
xác thực. Nếu cụ biết rõ bản chất của Ca Tô Giáo Rô Ma, hoạt động
của các thừa sai Ca Tô và một số không nhỏ tín đồ Ca Tô trên đất Việt,
trước, trong, và sau cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam, và những
nguyên nhân đưa đến việc cấm đạo mà tôi đã trình bày tạm gọi là
đầy đủ trong bài "Ý Nghĩa Và Vai Trò Trí Thức Trong Phật
Giáo", (Giao Điểm số 22, tháng 3, 1996) thì với lòng yêu nước cao
độ của cụ, có lẽ cụ sẽ có một quan niệm khác về việc cấm đạo.
Thực ra thì 15 năm sau khi thốt lời than trên cụ đã viết cuốn "Thiên
Hồ, Đế Hồ" với một lời than não nuột khác: "Trời ơi!
Chúa ơi!" (Xin đọc "Thiên Hồ! Đế Hồ!" , Lê Trọng Văn
xuất bản).
Tiện đây, tôi cũng muốn luận về
vấn đề "chống Giáo Hoàng" và "bỏ đạo Công Giáo (Ca Tô
Giáo Rô Ma) " mà ông Đỗ Mạnh Tri nêu lên trong bài. Trước hết, trong
18 bài viết trong cuốn "Đối Thoại..", không có một câu nào đề
nghị hay xúi dục gìáo dân chống đối Giáo Hoàng, bỏ đạo, hay cổ võ
việc cấm đạo. Cấm đạo và tiêu diệt đạo khác là sản phẩm đặc thù
của Ca Tô Giáo Rô Ma trong lịch sử nhân loại. Tôi có cần phải nêu lên
hàng trăm tài liệu dẫn chứng hay không? Cho nên, tất cả chỉ là những
suy diễn theo tiên kiến của ông Đỗ Mạnh Trí.
Thứ đến, có vẻ như ông Đỗ Mạnh
Tri cho rằng, đối với những giáo dân Việt Nam, việc "chống Giáo
Hoàng của họ" hay "bỏ đạo Công giáo (Ca Tô Giáo Rô Ma) của họ"
là điều không tưởng. Có thể là như vậy vì trình độ giáo dân Việt
Nam chưa đến mức như vậy. Lịch sử thế giới cho thấy, việc chống Giáo
hoàng cũng như việc bỏ đạo là chuyện rất tự nhiên trong thế giới văn
minh tiến bộ. Từ đầu thế kỷ 16, Luther đã đứng lên chống quyền
hành của Giáo Hoàng, lập nên giáo phái Tin Lành, phủ nhận quyền lực tự
phong của Giáo hoàng cũng như những giáo lý của CaTô Giáo. Kết quả là
hàng trăm triệu tín đồ CaTô đã chống lại Giáo hoàng và bỏ đạo. Hiện
nay, Âu Châu, trước là thành trì của Ca Tô giáo Rô Ma, nay hầu hết theo
Tin Lành. Nước Pháp, trước là "trưởng nữ" của giáo hội Ca Tô
Giáo Rô Ma mẹ với hơn 85% dân số theo đạo, nay còn chưa tới 25%. Cũng
trong thế kỷ 16, Giáo hội Ca Tô La Mã tại Anh quốc đã tách ra thành Anh
Giáo, không công nhận quyền hạn của Giáo Hoàng cũng như không theo các
giáo điều của Tòa Thánh Vatican đưa ra. Điển hình là gần đây Giáo hội
Anh đã tấn phong chức linh mục cho phái nữ bất kể sự phản đối của
John Paul II. Ngoài ra, nhiều quốc gia Ca Tô ở châu Âu cũng chống Giáo
hoàng và bỏ đạo Ca Tô Giáo La Mã. Thật vậy, trong cuốn "Tội Ác
Và Vô Luân Trong Giáo Hội Ca Tô " ("Crime and Immorality in The
Catholic Church", Lyle Stuart, Inc,. New York, 1962), Linh Mục Emmet McLoughlin
nghiên cứu về tỷ lệ tội phạm Ca Tô, thường là cao so với tỷ lệ
tín đồ Ca Tô trên dân số, trong nhiều tiểu bang trên nước Mỹ và trong
nhiều nước trên hoàn cầu, đã đưa ra những bảng thống kê về những
suy đồi không thể chối cãi trong Giáo hội Ca Tô, dựa vào tài liệu của
chính quyền, và đưa ra một nhận định như sau:
"Trào lưu Cải Cách của
Luther trong thế kỷ 16 chỉ là cao điểm thắng lợi của nhiều thế kỷ
tranh đấu của hàng triệu người thực tình bất đồng ý với những đạo
đúc cũng như giáo lý của La Mã. Nếu hoàn cảnh chưa chín mùi để nổi dậy,
phong trào cải cách của Luther và nhiều người khác không thể lan rộng một
cách nhanh chóng như vậy trong các quốc gia cấp tiến ở Âu Châu. Tất cả
các dân tộc này đều theo Ca Tô Giáo Rô Ma nhưng họ không chấp nhận tội
ác và vô luân của La Mã, của Giáo Hoàng và giáo sĩ đoàn.
Không phải chỉ vì ngẫu nhiên mà
những dân tộc Ki-Tô Giáo đã trở thành và vẫn còn là những dân tộc đạo
đức và tôn trọng luật pháp nhất trên thế giới, sau khi đã phủ nhận
La Mã. Na-Uy, Thụy-Điển, Ích-Lan, Đan Mạch, Phần-Lan, Anh Quốc, Tô-Cách-Lan
và Thụy-Sĩ, họ đã hiểu được là, hãy tin tưởng vào Thần Ca Tô, vào
ý chí của chính họ , chứ không phải là tin tưởng vào sự xưng tội,
luyện ngục, xá tội, những tràng hạt hay bài tán tụng Mary, mề đay và
những thứ tương tự."
(Luther's Reformation in the 16th-century
was merely the successful climax of centuries of struggle of sincere millions who
disagreed as much with the morals of Rome as they did with its doctrine. If the soil were
note ripe for revolt, the Reformation movement of Lutherans..and others could not have
spread so rapidly through the most progressive nations of Europe. All of these peoples
were Roman Catholics rejecting the crime and immorality of Rome, its pope and its clergy.
It is more than a coincidence that the
Christian peoples that rejected Rome became and still are the most moral and law-abiding
in the world. Norway, Sweden, Iceland, Denmark, Finland, England, Scotland and
Switzerland..they have learned to rely on God and their own will power, and not on
confession, purgatory, indulgences, rosaries, medals and the like.)
Hơn nữa, số Linh Mục và tín đồ
CaTô bỏ đạo càng ngày càng nhiều trên khắp thế giới, điển hình là
hiện nay ở châu Mỹ La Tinh, số tín đồ bỏ đạo để theo Tin Lành lên tới
8000 người mỗi ngày, làm cho Giáo Hoàng John Paul II lo sợ, không tự kiềm
chế được, phải thốt ra những lời chỉ trích các nhà truyền giáo Tin
Lành là "những con chó sói đói mồi, gây bất hòa chia rẽ trong cộng
đồng Ca Tô của chúng ta" (John Paul denounces the Protestants as
"ravenous wolves...causing discord and division in our (catholic) communities"
Newsweek, Feb. 12, 1996). Câu này nay đã đi vào lịch sử cùng với vô lượng
những lời tuyên bố cùng hành động phi đạo đức tôn giáo của các
Giáo Hoàng trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma.
Điểm sai lầm hầu như cố ý căn
bản thứ tư của ông Đỗ Mạnh Tri là ông đã dựng nên 18 người rơm để
rồi tự tay mình quật chúng xuống. Sự sai lầm này nằm ngay trong tên của
cuốn sách: "Ngón Tay và Mặt Trăng". Ông đã mượn điển
"Ngón Tay Chỉ Trăng" trong Phật Giáo để gán cho 18 tác giả Giao
Điểm mỗi người một ngón tay mà ông gọi là "ngón tay lông lá",
rồi dựa vào đó để mà phê bình. Ông dùng điển này để tỏ ra rằng
ta đây cũng hiểu về Phật Giáo, nhưng khi ông tương đồng hóa những bài
viết của 18 tác giả Giao Điểm với những "Ngón Tay Chỉ Trăng",
và với mục đích châm biếm, thì tôi cho là. ngoài cái vẻ dỏm còn chứng
tỏ một sự hiểu biết hời hợt về Phật Giáo. Nhưng đây chẳng qua ông
cũng chỉ áp dụng một sách lược công truyền, tôi muốn nhắc lại lời
phê bình John Paul II của Alan Senauke: "Những lời phê bình của JPII về
Phật Giáo chẳng khác gì dựng lên những người rơm rồi quật chúng xuống"
(The Pope's comments on Buddhism were little more than "setting up strawmen, then
knocking them down"). Có lẽ tôi nên viết ra cho nó rõ ràng:
Trong Phật Giáo, trong điển "Ngón
Tay Chỉ Trăng", "mặt trăng" chỉ "Chân Lý", cái chân
lý mà Đức Phật đã ngộ được qua sự tu tập bản thân, và "ngón
tay" chỉ Giáo Pháp, Kinh Điển Phật Giáo. Đức Phật đã khuyên các đệ
tử của Người đừng có coi Giáo Pháp của Người, về sau được viết
trên các Kinh điển, như là chân lý; có thể nhờ vào đó để đi tới chân
lý chứ không chấp chặt vào đó như là chân lý. "Ngón tay chỉ trăng"
cũng tiềm ẩn trong lời dạy sau đây của Đức Phật:
"Hỡi các Tỳ Kheo, các Thày
hãy là ngọn đuốc và nơi nương tựa cho chính mình. Các thày đừng phó
thác vào một chốn dung thân nào khác. Các thày hãy cương quyết chủ định
vào chân lý. Hãy lấy chân lý làm ngọn đuốc và nơi nương tựa cho mình"
(Kinh Đại Niết Bàn).
Đây là một giáo pháp đặc thù của
Phật Giáo, không phải có thể áp dụng trong bất cứ trường hợp nào
khác. Thí dụ: Giả thử một người nào đó có tư tưởng tiến bộ, muốn
áp dụng điển "Ngón Tay Chỉ Trăng" vào Ki Tô Giáo, lấy mặt trăng
chỉ Thượng Đế và ngón tay chỉ Thánh Kinh. Điều này không suôi, vì Thượng
Đế không phải là một chân lý mà chỉ là một quan niệm của một thiểu
số trên thế giới, và quan niệm này đã thay đổi rất nhiều qua nhiều
thời đại (Xin đọc cuốn "A History of God" của Karen Armstrong). Một
mặt khác, người Ki Tô giáo chấp chặt vào cuốn Thánh Kinh như là chứa
đựng những chân lý tuyệt đối. Chẳng thế mà John Paul II đã dựa vào
những trích dẫn từ Thánh Kinh ra và viết rằng: "Điều mặc khải
này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ".
Và cũng vì tin vào thẩm quyền của cuốn Thánh Kinh mà nhân loại đã phải
chịu đựng không biết bao nhiêu là thảm trạng qua những cuộc Thánh Chiến,
những Tòa án xử dị giáo, những chính sách thực dân nhằm tiêu hủy các
nền văn hóa khác v...v...như lịch sử thế giới đã chứng minh.
Tôi tin rằng 18 tác giả Giao Điểm
không có ý định chỉ mặt trăng cho John Paul II bởi lẽ chính họ cũng
chưa biết mặt trăng là gì. Những bài viết trong cuốn "Đối Thoại.."
không phải là giáo pháp, kinh điển, cũng không có tính cách không thể sai
lầm, mà chỉ là phản ứng của những cá nhân khi đọc cuốn "Bước
Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng" của John Paul II. Nhưng một số lớn luận
điểm trong đó đã dựa trên những tài liệu thành văn: những tác phẩm
viết bởi chính những chức sắc trong CaTô Giáo RôMa như Hồng Y, Tổng Giám
Mục, Giám Mục, Linh Mục, và các học giả chuyên về tôn giáo, các giáo sư
đại học, ngoài những tin tức trên báo chí và TV. Vậy nếu cho rằng đó
là những "ngón tay lông lá" thì cũng được đi, những ngón tay chỉ
vào một mặt trăng ở đáy nước, còn các tác giả Giao Điểm thì vô can.
Cũng vì chỉ hiểu một cách hời hợt
về Phật Giáo như trên nên ông Đỗ Mạnh Tri đã viết như sau:
"Nhìn Thiên Chúa Giáo đã như vậy,
khi nói về Phật Giáo, chưa hẳn tất cả 18 tác giả đã cố gắng chỉ trăng
cho người đọc...."
Có ai chỉ trăng đâu, chỉ muốn vạch
ra những sai lầm cố ý về Phật Giáo trong cuốn BQNCHV của John Paul II
thôi.
Trên đây tôi đã phân tích và phê
bình những điểm chính trong đoạn mở đầu của cuốn "Ngón Tay và
Mặt Trăng". Tôi cho rằng kể ra như vậy cũng đủ để quý độc
giả thấy ông Đỗ Mạnh Tri đã viết một cách "trí thức, chững
chạc và sâu sắc", theo như những lời tâng bốc "phe ta" của
Đất Mẹ và của ông Nguyễn Văn Chức, như thế nào? Tôi tin rằng quý vị
độc giả có thừa khả năng phán đoán để nhận định vấn đề. Tuy nhiên,
ông Tri đã viết một cuốn sách dày hơn 200 trang để nói với 18 tác giả
Giao Điểm mà tôi chỉ phê bình đoạn mở đầu của cuốn sách thì quả
là khiếm nhã và coi thường ông. Cho nên, tôi xin tiếp tục "góp ý kiến"
về một số điểm khác trong cuốn sách của ông Đỗ Mạnh Tri, nhưng dưới
một hình thức khác, để mua vui cùng quý độc giả. Sau mỗi ý kiến của
ông Đỗ Mạnh Tri tôi lại có vài lời bàn ngang. Bàn ngang vì có thể đối
với ông Tri những lời bàn này nghe ngang như cua, nhưng có bao nhiêu phần
chính xác trong đó, có bao nhiêu phần hợp lý trong đó, lại xin để quý
độc giả tùy nghi nhận định. Một mặt khác, trong phần này tôi không
tránh khỏi sự trích dẫn một số tài liệu ngoại ngữ, mà tôi thì không
phải là một chuyên gia về ngoại ngữ, nên trong phần dịch thuật có thể
có những danh từ tôi dịch không đúng hoặc không được chỉnh, nhưng tôi
luôn luôn kèm theo bản văn gốc để quý vị độc giả tham khảo. Vậy xin
quý vị miễn cho cái phần phê bình những sơ sót lặt vặt trong khả năng
chuyển ngữ của tôi. Sau cùng tôi xin quý độc giả tha thứ cho văn phong
phóng túng của tôi trong phần sau đây để bàn về những đề tài tế nhị
tôn giáo. Tôi quan niệm, đời sống của một cư sĩ mà lúc nào cũng phải
giữ thân, khẩu, ý, thì mất vui rồi, dù chỉ là những cái vui tạm bợ.
Ông Đỗ Mạnh Tri khuyên không nên
lẫn lộn tôn giáo với luân lý:
"Riêng về Giáo hội CG, người
CG coi giáo hội của mình là hội Thánh, không phải vì gồm toàn những người
thánh thiện. Số người CG trộm cắp, giết người v.v...chắc không kém những
người phi tôn giáo hoặc theo một tôn giáo khác. Đừng lẫn lộn tôn
giáo với luân lý. Thiếu gì những ông sư hổ mang, những thầy dòng tướng
cướp.Người Phật tử thường nói: 80% người Việt Nam theo đạo Phật. Nếu
có 80% người Việt Nam sống theo lời dạy của đức Phật thì nước nhà
thành cảnh bồng lai từ lâu rồi."
Lời bàn của TCN:
Người ta thường hay đưa ra một lý
luận để lạc dẫn những người nhẹ dạ: "Đạo nào cũng tốt, cũng
dạy người ta làm lành tránh dữ, và trong đạo nào cũng có người xấu,
đây chỉ là chuyện thường thôi." Khi xét một tôn giáo người ta không
chỉ dựa vào vài điều "dạy làm lành tránh dữ" mà còn phải
xét đến toàn bộ giáo lý của tôn giáo đó cùng đặt lên cán cân những
phúc lợi cũng như bất hạnh mà tôn giáo đó mang tới cho nhân loại. Lý
thuyết không chứng tỏ điều gì, chỉ những hành động của tôn giáo mới
ảnh hưởng tới sự an sinh của nhân loại.
Cho nên, cái lý luận trên là một
lý luận nhập nhằng, thường được dùng để che dấu những tội ác
trong lịch sử tôn giáo, lừa dối những người kém hiểu biết vì nó chỉ
nói một cách hời hợt tổng quát bên ngoài mà không đi sâu vào vấn đề.
Trong Phật giáo, một bậc xuất gia
(sư) ăn thịt (không áp dụng cho một tông phái Mật Tông), uống rượu hay
lăng nhăng với phái nữ, dù có sự thỏa thuận của phái nữ đã trưởng
thành, thì chúng tôi gọi là sư hổ mang. Danh từ này để chỉ những người
xuất gia chưa đủ nghị lực và định lực để thoát khỏi những cám dỗ
vật chất thường tình ở ngoài đời. Danh từ này không đúng với thực
trạng nhưng đã được dùng quen trong dân gian. Những ông sư hổ mang này
đã phạm giới luật của giới xuất gia nhưng không phạm luật dân sự
và luật về đạo đức trong xã hội, bởi vì các ông ấy không làm điều
gì khác với người thường ở ngoài đời. Tu chưa nổi, thế thôi. Nếu
áp dụng luật ăn thịt uống rượu này vào trong CaTô Giáo RôMa thì tất cả
các chức sắc CaTô, từ Giáo Hoàng trở xuống cho tới các Linh Mục, đều
phải gọi là Cha hổ mang cả, vì ai cũng ăn thịt, uống rượu thả dàn.
Chúa thì biến nước thành rượu cho dân chúng uống, Đức Phật thì
khuyên con người không nên uống rượu vì rượu có tác dụng làm mờ trí
óc. Cho nên phải nói giới luật trong Phật Giáo rất khắt khe, và tiêu chuẩn
đạo đức tu hành mà Phật tử đòi hỏi ở các bậc xuất gia cũng rất
cao.
Một ông thày dòng làm tướng cướp
đã vi phạm luật dân sự. Người thường ai cũng ăn thịt uống rượu và
gần nữ sắc nhưng không phải ai cũng đi làm tướng cướp. Một thí dụ
khác, nguyên trên Bắc Mỹ, cho tới năm 1992 đã có 400 ông Cha bị truy tố
ra toà về tội "cưỡng bách tình dục" hay "quấy nhiễu tình dục"
trẻ em và nữ tín đồ vị thành niên, và giáo hội đã phải bỏ ra 400
triệu đô la để dàn xếp ngoài tòa, nghĩa là chặn sự phổ biến các
thông tin thuộc loại này càng nhiều càng tốt. Và ngay gần đây, ngày 25
tháng 7, 1997, báo Chicago Tribune đăng tin Giáo xứ CaTô ở Dallas bị phạt bồi
thường cho các nạn nhân 120 triệu đô la về vụ một ông Cha Catô ở đó
đã cưỡng bách tình dục 11 em phụ tế. (The Roman Catholic Diocese of Dallas
was ordered Thursday to pay $120 million in damages to 10 former altar boys and the
parents of another who were sexually abused by a Catholic priest.) (Tiền của giáo hội
ở đâu mà nhiều thế? Những người cúng tiền cho nhà thờ cứ tưởng là
để dùng vào các việc thiện, cứu giúp người nghèo đói.). Chưa kể là
trong lịch sử CaTô Giáo RôMa có những ông Cha làm trưởng trại tù, cắt
cổ và thiêu sống những người khác tôn giáo (Xin đọc và xem những hình
ảnh trong cuốn "Vatican's Holocaust" của Avro Manhattan), có những bà
sơ (Em hiền như ma sơ). ở Québec, Canada chọc thủng màng tai của cô nhi,
làm em thành tàn tật để lãnh thêm tiền trợ cấp của chính phủ (Xin xem
chương trình Prime Time của đài ABC trước đây), hoặc như ở Ái Nhĩ Lan,
đánh đập cô nhi vì tội đái dầm, rội nước sôi vào cô nhi để phạt
vì em đói quá phải đi ăn cắp thức ăn của thỏ mà các sơ nuôi (Tiền
trợ cấp của chính phủ các sơ dùng để nuôi thỏ (món civet lapin khá
ngon) và bỏ đói các em cô nhi, xin xem chương trình "60 Minutes" của
đài CBS ngày 11 tháng 5, 1997), hoặc cung cấp dầu xăng để thiêu sống tập
thể những người khác tôn giáo đã bị nhốt ở trong một Thánh đường
(xin đọc tin ở Rwanda trên báo chí gần đây). Và ngay cả Vatican cũng là nơi
cất dấu vàng của một số tội phạm chiến tranh trong đệ nhị Thế Chiến
và dùng các tu viện để che dấu các tội phạm này và chuyển ra ngoại quốc
(Chicago Tribune, July 23, 1997, Associated Press: ..A newly declassified document
identifies the Vatican as a postwar repository used by the ousted Nazi puppet government
of Croatia. In the first evidence of Vatican complicity in the handling of Holocaust loot,
a document uncovered by researchers points to 200 million Swiss francs, mostly in gold
coins, held for members of the deadly Ustasha after the fall of Nazi Germany) Ustasha là
một tổ chức khủng bố do một số chức sắc CaTô Giáo RôMa ở Croatia cầm
đầu, gồm có cả Hồng Y, Giám Mục và Linh Mục. Tổ chức này đã tàn
sát vào khoảng 700,000 dân Serb (theo Chính Thống giáo) và Vatican có liên hệ
chặt chẽ với tổ chức này (Ustashas who controlled Croatia during the war
exterminated hundreds of thousands of Serbs, Jews and Gypsies, and historians have
denounced the Vatican for maintaining ties to the regime led by Ante Palevic.). Đó là một
vài sắc thái của "Hội Thánh" mà theo ông ĐMT, có chiều kích tâm
linh. Các tín đồ KiTô giáo có lẽ không bao giờ tự đặt cho mình vài
câu hỏi: Có cái gì trục trặc ở đây? Tại sao trong những tôn giáo Đông
phương như đạo Phật, đạo Lão, đạo thờ ông bà tổ tiên v..v.. lại
không hề có những tội ác tương tự? Cùng là con người cả, tại sao đạo
Chúa lại có thể sản xuất ra nhiều người ác ôn hơn là các tín đồ các
đạo khác? Tại sao cái lịch sử đạo Chúa lại chứa nhiều tội ác như
vậy? Có thể họ rất thỏa mãn với ơn "cứu rỗi" của Chúa cho
riêng họ, và họ không cần phải để ý đến cái cộng đồng mà họ là
một thành phần trong đó. Và cái điều khôi hài nhất là cứ ai đụng đến
Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hoàng là họ lại hết sức bênh vực, đóng sập
cửa vào mặt sự thực, và lên án người ta là chống CaTô, gây thù hận
giữa các tôn giáo, có ý đồ cấm đạo v.v...
Chưa có ông sư hổ mang nào bị
truy tố ra tòa về tội ăn thịt, uống rượu hay "zui zẻ" (have
fun) với một nữ nhân mà không có sự ưng thuận của "nạn nhân".
Và cũng chưa có ông sư nào phạm những tội ác ngập trời như trên, cho
nên, đừng bao giờ nhập nhằng so sánh những "tội ác" của các
ông sư hổ mang với những tội ác của những ông Cha, và cho rằng đạo nào
cũng có người xấu như nhau. Bản chất của những cái xấu kể trên hoàn
toàn khác nhau và mức độ cũng khác xa nhau.
Tôn giáo không phải là luân lý, căn
bản thì đúng rồi, nhưng tôn giáo có quyền dạy con người những điều
phi luân không? Phải chăng vì chủ trương phân biệt này mà con người an
nhiên thỏa mãn với vài tín điều mà không đếm xỉa gi tới luân lý? Phải
chăng cũng vì quan niệm này mà người ta vẫn coi giáo hội là Hội Thánh
không đếm xỉa gì tới bao nhiêu cảnh máu chảy thành sông, xương chất
thành núi, mà giáo hội đã gây ra cho nhân loại suốt 2000 năm nay? Nhưng tôn
giáo là gì, phải chăng chỉ là tìm sự cứu rỗi cho riêng mình mà không cần
để ý đến những ứng xử giữa con người và con người? Lịch sử còn
đó, không thể mỗi lúc có thể làm cho con người quên đi những bất hạnh
mà con người đã phải chịu đựng chỉ vì tôn giáo không đếm xỉa gì tới
luân lý.
Lý luận của các nhà bảo vệ tín
lý là tách rời tôn giáo ra khỏi luân lý. Tại sao? Bởi vì một tôn giáo
thuộc loại "cứu rỗi" thì vấn đề luân lý không quan trọng. Chỉ
có tin vào Chúa thì mới được cứu rỗi, còn đạo đức cách mấy nếu
không tin thì Chúa cũng chê. Cũng vì vậy mà Jeffrey Dahmer (một tội phạm
can tội giết 17 người và ăn thịt người, phút cuối tin ở Thần nên
được lên Thiên đàng) và Westley Allan Dodd (một tội phạm can tội hãm hiếp,
dùng cực hình hành hạ rồi giết một số trẻ con từ 4 đến 10 tuổi,
trước khi bị treo cổ đã lấy lại niềm tin nơi Thần nên được Thần cứu
rỗi cho lên thiên đường) [Có người hỏi: "Có thể nào một người
suốt đời làm những việc xấu ác nhưng lúc cuối cùng tin ở Thần nên
được Thần cứu rỗi?" Một nhà Thần Học Ca-Tô Giáo Rô-ma, Linh Mục
Richard Neuhaus, đã trả lời: "Tuyệt đối là được." (Is it
possible for a person who has led an evil life to be saved in a last-minute conversion?
"The answer is absolutely it is," said the Rev. Richard Neuhaus, a Roman
Catholic theologian.)] Ông Đỗ Mạnh Tri bênh vực Dahmer rằng:
"Mặc dầu những tội ác đã
phạm, J. Dahmer vẫn có thể tìm lại được tâm, mà tâm là cửa Thiên đàng
rồi."
Jeffrey Dahmer đâu có tìm lại được
tâm mà chỉ tin ở Thần lúc cuối, conversion không có nghĩa là tìm lại
được tâm. Ông Tri cũng không biết rằng những người này không hề hối
hận về những tội ác mà mình đã làm. Dodd nói với những nhà cầm quyền
là nếu được thả ra, hắn sẽ giết và hãm hiếp nữa và thích thú từng
phút một của những hành động này. (Westley Allan Dodd abused children with NO
SIGN OF REMORSE.. Dodd told authorities that if he were let loose, "I will kill and
rape again and enjoy every minute of it"). Tin ở Chúa để được lên Thiên
đàng không phải là tìm lại được tâm. Chẳng trách trong lịch sử CaTô
Giáo RôMa người ta thản nhiên làm không biết bao nhiêu tội ác, vì đã
có một bảo đảm là nếu kịp tin vào Chúa ở phút cuối thì sẽ được
Chúa cứu rỗi, cho lên Thiên đàng. Ông Tri cũng trách tác giả Trần Văn
Kha là không có tâm từ bi của Phật tử vì không muốn ở trên Thiên đàng
cùng với Jeffrey Dahmer. Ông không hiểu rằng cái Thiên đàng mà Trần Văn
Kha muốn nói là cái Thiên đàng của những người có ác tâm, đã phạm
nhiều tội ác, không hề hối hận và được ở đó chỉ vì tin vào Chúa,
chứ không phải là Thiên đàng của thiện tâm. Trong KiTô Giáo không hề
có Thiên đàng của thiện tâm mà chỉ có Thiên đàng của những người
tin vào Chúa bất kể đời sống đạo đức của họ ra sao.
Đừng lẫn lộn tôn giáo với luân
lý. Phải chăng sự tách biệt trên là để biện minh cho những điều vô
luân ở trong Thánh Kinh cùng những hành động vô luân của giáo hội như là
một cơ quan chỉ đạo? Có cần tôi phải đưa ra những bằng chứng lịch
sử và trích dẫn từ Thánh Kinh ra ở đây không? Về lịch sử CaTô giáo
RôMa liên quan đến những tòa án xử dị giáo, Lord Acton đã nhận xét rằng:
"Các Giáo hoàng không những
chỉ là những tên sát nhân có hạng, mà còn làm cho sự giết người thành
một căn bản hợp pháp của giáo hội KiTô và là một điều kiện để
được cứu rỗi."
(The popes were not only murderers in the
great style, but they also made murder a legal basis of the Christian Church and a
condition for salvation.)
Chúng ta có thể nói: ta không thể
tổng quát hóa những hành động cá nhân với tôn giáo, vì cá nhân không
đại diện cho tôn giáo. Nhưng nghĩ sao về những chủ trương của tập thể
"Hội Thánh" hay của "Đức Thánh Cha" mà tín đồ thường
coi như là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ) và tuân phục
các tông huấn của Ngài. Ai, và cơ quan nào nắm trong tay cái chìa khóa mở
cửa lên Thiên đàng, Thiên đàng của Dahmer, Dodd và nhà thần học CaTô
Richard Neuhaus, và quyết định tín đồ phải tin như thế nào? Biện pháp
tuyệt thông của Tòa Thánh có nghĩa gì? Cá nhân tín đồ có thể "trở
về với Chúa" mà không cần đến giáo hội, đến giáo hoàng hay
không? Đã có tín đồ CaTô Việt Nam nào dám tuyên bố: Chúa ở trong tôi,
Chúa ở cùng tôi, tôi không cần phải có giáo hội hay giáo hoàng mới có
thể trở về với Chúa ?
Đừng lẫn lộn tôn giáo với luân
lý. Nhưng tôn giáo mà không có luân lý thì nó sẽ trở nên cái gì? Có lẽ
chúng ta nên đọc đoạn sau đây của John E. Remsburg viết trong cuốn "False
Claims":
Giáo hội và luân lý
"Giáo hội tự nhận rằng giáo
hội là đoàn thể gìn giữ luân lý quần chúng - là cơ quan luân lý lớn của
thế giới. Điều tuyên nhận này sai. Giáo hội không cổ súy luân lý.
Giáo hội là một cơ chế mà đối tượng tuyên dạy là sự truyền bá đạo
KiTô. KiTô giáo là một hệ thống tôn giáo (theo nghĩa tôn giáo độc thần
của Tây phương. TCN), và tôn giáo và luân lý không phải là hai từ đồng
nghĩa. Một tôn giáo là một hệ thống của lòng tin và thờ phụng một
nhân vật tưởng tượng gọi là Thần (God); luân lý là sự ứng xử của
con người như là những sinh vật trong xã hội đối với nhau. Tôn giáo
liên hệ đến sự an sinh của con người trong một đời sau và trong một
thế giới khác; luân lý là về sự an sinh của con người lúc này và ở
đây. KiTô Giáo không để ý đến luân lý. Nhiều tín điều của tôn giáo
này bản chất thật là trái với luân lý."
The Church and Morality
(It is claimed that the church is the
conservator of public morals - the great moralizing agent of the world. This claim is
false. The church is not the promoter of morality. The church is an institution whose
professed object is the propagation of Christianity. Christianity is a system of religion,
and religion and morality are not synonymous terms. A religion is a system of faith and
worship pertaining to an imaginary being call God; morality pertains to the conduct of men
as social beings in relation to each other. Religion is supposed to relate to the welfare
of man in a future life and in another world; morality relates to the welfare of man now
and here. Christianity ignores morality. Many of its dogmas are utterly demoralizing in
their nature.)
Sau đó tác giả phân tích và phê
bình các tín điều trong KiTô giáo như tội tổ tông, chuộc tội, thưởng
phạt v..v.. Sau đây là một chút về tín điều "chuộc tội":
"Chúng ta hãy coi giáo lý vê
Chúa chuộc tội. Có bao giờ đầu óc nhân loại có một quan niệm nào mà
tồi tệ hơn cái ý tưởng này? Ý tưởng về sự giận giữ của một Thần
đầy tình thương chỉ có thể nguôi bớt bằng sự hy sinh của đứa con vô
tội. Đây là một người cha có nhiều con; tất cả chúng đều là những
tên hạ tiện thấp hèn (Thần tạo ra chúng theo hình ảnh của Ngài. TCN) trừ
một đứa, một đứa thông minh và cao quý. Người cha nổi giận về tư cách
của những đứa con kia đến độ cách duy nhất có thể hòa hợp với
chúng là sui khiến chúng giết đi đứa con vô tội. Hành động sát nhân
này đã chuộc mọi tội lỗi của chúng. Tắm trong máu của người anh
em bị giết, chúng trở thành tinh khiết và thánh thiện. Bằng hành động
sát nhân này chúng xứng đáng lấy lại được lòng yêu thương của cha chúng.
Một giáo diều như vậy thật là đáng tởm đối với mọi ý niệm về
công lý, đối nghịch với mọi nguyên tắc về luân lý."
(Take the doctrine of vicarious atonement.
Has the human brain ever conceived a more infamous idea than this? The idea that the wrath
of a merciful God can only be appeased by the sacrifice of his innocent son. Here is a
father with a family of children; all of them are debased villains save one, a bright and
noble boy. The father has become so enraged at the conduct of his vicious children that
the only way he can become reconciled to them is by having them murder this innocent
child. This murder atones for all their crimes. Washed in the blood of their murdered
brother, they become pure and holy. By this act they merit and obtain the renewed
affection of their parent. Such a doctrine is shocking to every sense of justice, is
antagonistic to every principle of morality.)
Chưa kể là trong Cựu Ước có kể
Thần đã trừng phạt những đứa con mình sinh ra bằng cách giết hết
chúng trong một trận lụt cả, cả ông già bà cả, trẻ con và sơ sinh
cũng không từ, trừ gia đình của một tên say rượu (Noah). Chẳng trách
được nhắc đến luân lý là các nhà bảo vệ tín lý sợ như đỉa phải
vôi, và trở giọng cãi chầy cãi cối: đừng lẫn lộn tôn giáo với luân
lý.
Nếu 80% dân Việt Nam sống theo lời
dạy của đức Phật thì nước nhà đã thành cảnh bồng lai từ lâu rồi.
Đúng vậy, nhưng tại sao lại không theo? Vì chỉ có những người thượng
căn mới có thể tu theo lời Phật dạy, còn dân chúng thông thường thì chỉ
chịu ảnh hưởng của tinh thần và giáo lý Phật Giáo. Và lịch sử Việt
Nam đã chứng tỏ tinh thần của Phật Giáo đã thấm vào đầu óc người
Việt, tạo nên những lối sống, lối suy nghĩ, và một lòng yêu nước, yêu
đồng bào rất cao, không đi giết hại người khác vì lý do tôn giáo, chưa
hề liên kết hay làm tay sai cho bất cứ đoàn quân xâm lăng nào để đưa
tới những hành động phản quốc, phản dân tộc. .
1. Ông Đỗ Mạnh Tri khen nhà
thờ Đức Bà ở Paris đẹp:
"Tại sao không quên đi dù chỉ
trong chốc lát, những ngón tay các bạn không chịu nổi để thử tưởng
tượng ánh trăng của người khác? Tại sao chỉ nhìn vào cái vỏ bên
ngoài mà không đếm xỉa gì đến cốt lõi? Hiểu gì về vẻ đẹp kỳ diệu
của một thánh đường gothique thời Trung Cổ như nhà thờ Đức Bà Paris,
Chartres khi ánh sáng chói chang biến dạng qua những cửa sổ ghép kính màu
(vitraux), nếu chỉ nhất định đứng bên ngoài, bĩu môi nhìn từ xa và chỉ
chú ý những chỗ rạn nứt, sứt mẻ? Làm sao cảm nhiệm được cuộc hôn
phối nhiệm mầu giữa ánh sáng lung linh siêu thoát và sức nặng thâm u của
một rừng đá vươn lên từ lòng đất, nếu trước khi ngắm nhìn những
công trình kiến trúc ấy đã nhất định dán cho nó cái nhãn hiệu trung cổ,
tối tăm, huyền hoặc, lạc hậu? "
Lời bàn của TCN:
Tôi đã nhìn ánh trăng trên trời,
tôi cũng đã nhìn những ánh trăng dưới đáy nước. Nhưng đầu óc tôi
còn tỉnh táo và còn khả năng suy luận nên tôi không tính chuyện "mò
trăng đáy nước". Tôi cũng không chỉ nhìn ở cái vỏ ngoài mà đã
nhìn kỹ, rất kỹ, vào cốt lõi. Cái cốt lõi này nằm trong lịch sử
nhân loại, nằm trong các thư viện, nằm trong các tác phẩm của hàng trăm
giới chức lãnh đạo tôn giáo cũng như của các học giả, giáo sư đại
học. Cái cốt lõi này nằm trong những tài liệu dẫn chứng, trên dưới
300 tài liệu, ở trong cuốn "Đối Thoại.."
Cái vẻ đẹp của nhà thờ Đức Bà
Paris chỉ có thể thưởng thức chứ không thể hiểu. Và cái vẻ đẹp này
hoàn toàn tương đối. Cái mà mình cho là đẹp có thể không đẹp đối với
người khác. Một mặt khác, nếu tôi để tâm tìm hiểu về mọi chi tiết
liên quan đến nhà thờ Đức Bà: lịch sử, kiến trúc, tôn giáo, giáo điều,
tín lý v..v.. , nghĩa là tìm hiểu về cốt lõi của nó, thì nó trở nên hết
đẹp vì đằng sau cái vẻ nguy nga, huy hoàng tráng lệ ở bên ngoài là cả
một lịch sử đen tối đã làm cho Âu Châu chìm đắm trong một thời đại
hơn ngàn năm của sự man rợ và đen tối trí thức, là những cảnh tra tấn
dã man nhất của lịch sử nhân loại, là những cảnh thiêu sống, là những
đống xương khô, là những suối máu chảy. Cho nên, chỉ có thể viết:
"Tôi cho rằng cái đó đẹp" chứ không thể khẳng định cái đẹp
đó có tính phổ quát để mà chê trách người khác là không "hiểu"
cái vẻ đẹp đó. Mà thực ra, nếu "hiểu" thì chẳng có cái gì
có thể gọi là nhà thờ Đức Bà.
Tương tự, nhà thờ Đức Bà ở
Saigon, nhà thờ lớn ở Hà Nội mà ông Tri nhắc tới trong cuốn sách, cũng
nguy nga tráng lệ lắm. Nhưng nếu tôi biết rằng nhà thờ Đức Bà đã
được xây trên đất cướp được của Chùa, và nhà thờ lớn Hà Nội xưa
kia cũng là đất của Chùa Báo Thiên mà thực dân Pháp và tay sai đã dùng
cường quyền áp bức để chiếm cứ xây nhà thờ, thì bao nhiêu vẻ đẹp
nguy nga tráng lệ trở thành hết đẹp. Một ý nghĩ thoáng qua đầu: Giáo hội
CaTô Giáo RôMa tại Việt Nam có nghĩ đến chuyện bồi thường hay trả lại
những bất động sản của Phật Giáo mà Giáo hội đã cưỡng chiếm trong
thời Pháp đô hộ, để bước bước đầu trong việc tiến tới hòa hợp
tôn giáo trong đại khối dân tộc không? Đây là một hành động cao cả,
trả lại sự công bằng cho người dân Việt Nam, .
Đối với tôi, tranh của Picasso
trông như vẽ bùa, tuy có bức bán cả triệu đô la, nhưng tôi không thể
trách người khác là không "hiểu" tranh của Picasso trông như vẽ bùa.
Tương tự, bản nhạc Ave Maria của Gounod mà ông Tri nhắc tới ở trang 161,
cũng như bản Ave Maria của Schubert, nghe ở trong Thánh đường Âu Mỹ thì
có thể gây nhiều cảm hứng, nhưng mang về nơi đồng ruộng miền quê Việt
Nam thì phần chắc là nó trở thành lẩm cẩm vì người dân đã quen với
những điệu "Quan Họ Bắc Ninh", Cò Lả hay Hò Huế. Bản Messiah của
Handel mà mùa Đông chí nào ở các nơi chợ trời (shopping mall) cũng được
vặn lên đoạn Halleluijah như trống quân hành, đối với một số người
nghe kể cũng thích, nhưng mang về Lái Thiêu, Cần Thơ thì có thể nó không
khác gì gõ cái thùng thiếc bể, hoặc như tiếng hô xung phong của đoàn thập
tự quân trong thời Trung Cổ. Đối với dân ở đây, có thể không có gì
mùi bằng 6 câu vọng cổ. Đó là tính tương đối của mọi vật, theo như
lý thuyết của nhà Phật. Nhưng tính tương đối này lại đưa đến một
quan niệm đặc thù của Phật Giáo: tính dung thông vô ngại trong kinh Hoa
nghiêm. Cùng một vật đó, cùng một bản nhạc đó nhưng mỗi người nhìn
thấy khác nhau hoặc nghe thấy khác nhau. Nhưng những khác nhau này không hề
ngăn ngại nhau mà lại chứa đựng và nhập vào với nhau, tương tự như
những tia sáng rọi vào nhau. Vì ý thức được cái chân lý này nên trong lịch
sử Phật Giáo chúng ta không hề thấy những cuộc Thánh Chiến hay những
toan tính hủy diệt các tôn giáo khác hay các nền văn hóa khác. Trong khi,
cái tôn giáo vẫn tự khoe là cao quý, tiến bộ, thiên khải, nhưng lại không
ý thức được điều này nên đã gây ra không biết bao nhiêu cảnh đau
thương cho nhân loại. Sự khác biệt về cái dụng của tôn giáo chính là
ở chỗ này.
2. Ông Đỗ Mạnh Tri ca tụng
phép lạ ở Lourdes:
"Nhà tôi có chai nước Lộ
Đức do một cụ già Phật tử đi viếng Lộ Đức mang về tặng thằng cháu
tôi cùng ở trại tỵ nạn với cu. Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không?
Không phải phép lạ của một bệnh viện. Năm chừng mười họa mới có
người được khỏi bệnh, bất cứ một bác sĩ nào chữa bệnh kiểu đó
cũng thất nghiệp từ lâu. Vậy tại sao người ta vẫn đi viếng Lộ Đức?
Trước khi phán quyết bằng hai chữ "mê tín" gọn ghẽ, có lẽ
các đầu óc tự coi là trí thức nên tự đặt cho mình một câu hỏi."
Lời bàn của TCN:
Cách đây vài năm ở bên nhà có vụ
"ai đó" phao tin có giếng nước thiêng có thể chữa khỏi bệnh tật
như nước ở Lourdes. Dân chúng đổ xô đến, hi vọng được hưởng phép
lạ, giống như phép lạ ở Lourdes. Chính quyền lấy nước về phân chất
và thấy nước không được tinh khiết, uống vào chỉ thêm bệnh nên ngăn
cấm không cho dân đến gần giếng nước đó. Vi phạm nhân quyền? Vi phạm
tự do tín ngưỡng? Không phải. Một điểm son cho chính quyền. Chính quyền
cần tiền nhưng không khai thác lòng mê tín của quần chúng để thu lợi,
trái lại còn nghĩ tới an sinh của quần chúng. Về chuyện này, ai bảo Cộng
sản không có đạo đức?
Ở Lourdes, "người ta" đã
khai thác triệt để sự mê tín của quần chúng để thu vào những nguồn
lợi khổng lồ. Giáo hội không làm gì để ngăn cản, trái lại còn khuyến
khích. Một điểm đen, đen ngòm.
Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của
André Lorulot trong cuốn "Lourdes: La Vérité sur les Visions de Bernadette. Le
mercantilisme de la Grotte", Aux Éditions de "L'idée Libre", Herblay
(Seine-et-Oie), 1933: (Lộ Đức: Sự thật về những cái thấy của Bernadette.
Tính cách thương mại của hang đá (Lourdes)):
"Cái xí nghiệp Lourdes cung cấp
cho giáo hội những nguồn lợi vật chất mà giáo hội dùng trong chính trị
nhơ bẩn và mờ ám.
Cái hang đá (Lourdes) không chỉ mang
những lợi tức đến cho công đoàn. Nó còn là một phương tiện để duy
trì và phát triển sự cuồng tín, gia tăng cường độ ngu xuẩn, đẩy sự
tin vào siêu nhiên đến cực độ.
Chúng ta thấy ở đó mọi dạng
khai thác. Mới đây giáo sư A. Chide chứng tỏ rằng đĩ điếm rất phát
triển ở Lourdes. Và tôi không nói đến vô số thày dòng tới đây "như
là một hỏa tiễn" với các cô "cháu gái" hay tệ hơn nữa.
Nếu các bạn có đi tới Lourdes thì
hãy cẩn thận và đừng tin ở đám người cuồng tín đó, những người này
thực sự là những con vật hung hăng, đầu óc ngu đần bị thống trị bởi
giáo hội và không đủ khả năng để hiểu một lý lẽ có ý nghĩa.
Chúng ta phải đi tới Lourdes - và
biết quan sát một cách bình tĩnh với óc phán đoán - mới nhận ra tầm rộng
lớn của căn bệnh tôn giáo."
(L'entreprise de Lourdes fournit à
l'église d'incalculables resources matérielles, qu'elle emploie à sa politique malsaine
et obscure.
La Grotte ne fournit pas seulement des
revenus à la congrégation. Elle constitue un moyen excellent d'entretenir et de
développer le fanatisme, d'exacerber la bêtise, de pousser au paroxysme la croyance au
surnaturel.
...Toutes les formes d'exploitation sont
du reste représentées. Le professeur A. Chide a montré naguère que la prostitution
était très developpée à Lourdes... Et je ne parle pas des innombrables curés qui
viennent ici "en bombe" avec leur "nièce" ou pis encore..
...Si vous allez à Lourdes, soyez prudent
et méfiez-vous de ces fanatiques, véritables bêtes furieuses, cerveaus inintelligents
dominés par l'Église et incapables de comprendre un raisonnement sensé.
... Il faut aller à Lourdes - et savoir
observer avec calme et discernement - pour saisir l'étendue du mal religieux.)
Tôi chưa đi đến Lourdes nhưng đã
có hàng triệu người đã đến Lourdes, và sau đây là một đoạn trong cuốn
"A Modern Priest Looks at his Outdated Church," Pocket Book, New York,
1967: Tác giả là một Linh Mục CaTô, Linh Mục James Kavanaugh. (Cái nhìn của
một linh mục hiện đại về giáo hội lỗi thời của ông ta):
"Tôi đã đi tới Lourdes ở
miền Nam nước Pháp. Tôi đứng trong cái công trường rộng lớn đằng
trước thánh đường và quan sát những tín đồ CaTô ở khắp nơi trên thế
giới chờ đợi một ân sủng đặc biệt của cái đền thờ thiêng liêng
này. Tôi bị các bà người Ý đầu đội khăn xô đẩy, những người Đông
Âu to tiếng thì thầm những lời cầu nguyện làm cho tôi sao lãng. Tôi thấy
những người bệnh hoạn nằm trên cáng, những nhà kinh doanh Mỹ với những
chiếc sơ mi trắng. Tôi thấy những linh mục trong những bộ áo thầy tu của
thế giới, những người Phi Châu hồ hởi trong các bộ quần áo sặc sỡ.
Nhưng phần lớn là tôi thấy những bộ mặt nhăn nheo, nói lên một cách
thành thực sự đau đón của họ. Họ đã tới để xin một ân huệ, giống
như những đám người Hồi Giáo tại nơi hành hương, và để hưởng một
sự tiếp xúc đặc biệt với Thần của họ. Họ uống nước ở đó, nổi
tiếng về những tác dụng lạ lùng. Họ mua nước đựng trong những chai
plastic để mang về nhà (và để biếu. TCN). Họ mua từng rổ tràng hạt
và mề đay và nhờ những bàn tay mập mạp nhễ nhại mồ hôi của các
linh mục ban phúc lành cho những thứ này. Họ đông như châu chấu, cúi xuống
ngấu nghiến từng cọng ân sủng đặc biệt. Họ mi-mi chân các ngôi tượng
và rên rỉ trong những đền thờ mốc mếch. Họ thú tội bằng đủ mọi
thứ tiếng và nhai nhóp nhép phó mát của miền núi. Rồi, giống như một
đàn cừu vĩ đại đã no nê hài lòng, họ về nhà đi ngủ. Và tôi cũng về
nhà đi ngủ, cũng khó chịu và rối răm bởi sự mê tín như là tôi đã chứng
kiến vào một ngày mùa thu đó khi đội banh Spartans thắng đội banh Rome.
(Đội banh Rome, theo lời kể của Linh Mục Kavanaugh, trước khi ra quân, quỳ
trước nhà thờ yêu cầu được Linh Mục ban phép lành và cho ăn bánh
Thánh, hiệp thông với Thần để Thần phù hộ cho thắng trận đấu,
nhưng rút cuộc bị thảm bại. TCN). Tôi không những chỉ khó chịu và rối
răm mà tôi còn cảm thấy thật là xấu hổ. Đó là giáo hội của tôi,
và họ là những tín đồ mà tôi góp phần đào tạo, những con số thống
kê mà chúng tôi cộng vào khi chúng tôi đếm số người theo đạo. Đầu
óc tôi đầy những tư tưởng làm tôi ngủ không được...Tôi nghĩ đến
những con người CaTô sợ sệt, lo lắng cầu nguyện trong mọi giáo xứ mà
tôi đã phục vụ. Tôi nghĩ đến con người mà là tín đồ Ca-Tô và một
lần nữa tôi lại nghĩ đến họ".
(Muốn biết Linh Mục Kavanaugh nghĩ
gì về con người Catô, xin đọc chương "A Man Who Is A Catholic", từ
trang 30 đến trang 40, trong cuốn sách nêu trên, có nhiều đoạn giúp chúng
ta hiểu rõ về con người CaTô đúng boong và hay lắm. TCN)
(I took a trip to Lourdes in southern
France. I stood in the giant square in front of the Basilica and watched the Catholics of
the world await the special blessing of this sacred shrinẹ I was jostled by the Italian
ladies in their shawls, distracted by Eastern Europeans who whispered their prayers out
loud. I watched the sick on their litters, the American businessmen in their clean white
shirts. I saw priests wrapped in the cassocks of the world, excited Africans in their
multi-colored native garb. But most of all I saw the wrinkled faces, speaking out the
sincerity of their pain. They had come to ask a favor, like the Moslem hordes at Mecca,
and to know a special contact with their God. They drank the water there, which is noted
for its miraculous effects. They bought the plastic bottles to bring the water homẹ They
bought rosaries and medals by the basketful and had them blessed by the pudgy hands of
sweating priests. They covered the grounds like locusts, bent on devouring each shred of
special grace. They kissed the feet of statues and groaned in mildewed shrines. They
confessed in every language and munched their mountain cheese. Then, like a giant, content
herd, they went home to bed. And so did I, as sick as confused by superstition as I had
been on that autumn day when the Spartans conquered Rome.
Not only was I sick and confused, I was
deeply ashamed as well. This was my Church and there were the Catholic men I had helped to
form, the statistics we added up when we counted the catholicity of our Church. My mind
was crowded with thoughts that refused to let me sleep. I thought of the frightened
catholics who worried and prayed in every parish I had served. I thought of the man who is
a Catholic and I think of him once again....)
Phép lạ Lộ Đức? Tại sao không?
Vấn đề ở đây không phải là phép lạ, vì phép lạ, nếu thực sự là
phép lạ, có tính cách nhỏ giọt này có bao nhiêu giá trị cho nhân loại?
Bảo rằng phải có lòng tin phép lạ mới ứng. Như vậy là cho rằng trong
cả triệu người đến Lộ Đức mỗi năm, lâu lâu mới có một người
tin. Vấn đề ở đây là giáo hội đã khai thác lòng mê tín của quần
chúng để kiếm tiền cho những mục đích chính trị nhơ bẩn và tối tăm.
3.Ông Đỗ Mạnh Tri ca tụng
KiTô giáo đã sáng tạo ra nhân quyền, công bằng và bác ái:
"..Lúc này ai cũng nói đến
nhân quyền, nhưng bản tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền là gì, nếu không
phải là cách diễn đạt trên bình diện công lý những nguyên tắc mà từ
thời Trung Cổ người công giáo gọi là những bổn phận của đức bác
ái? (...) Công bằng hay bác ái, cả hai đều dựa trên ý niệm về con người,
phát xuất từ KiTô giáo."
Lời bàn của TCN:
Nếu tôi là ông Tri thì tôi sẽ
không bao giờ viết câu trên, vì đây chẳng qua là những lời giáo hội
nhét vào đầu các con chiên đầu óc vốn mù mịt. Trước đám tín đồ kém
hiểu biết, những người giảng đạo thường nhét vào đầu tín đồ những
câu tương tự không chút ngượng ngập bất kể đến lịch sử của giáo
hội. Thực ra họ cũng biết như vậy là trái với những sự kiện lịch sử,
nhưng để truyền bá đạo và để được hưởng những đặc quyền trên
sự ngự trị đám người ít học, họ vẫn tiếp tục lừa dối tín đồ.
Một số người khác được dạy như vậy từ nhỏ, dạy làm sao thì tin như
vậy và nhắc lại y như vậy. Số người này không đáng trách..
Lịch sử CaTô Giáo RôMa đã chứng
tỏ ngược lại. Trong thời Trung cổ, trên vai giáo hội CaTô có 8 cuộc
Thánh Chiến, tàn sát nhiều triệu người vì lý do tôn giáo, có những toà
hình án xử dị giáo với những cảnh tra tấn khủng khiếp và dã man nhất
trong lịch sử loài người, có những cảnh thiêu sống các "mụ phù thủy"
lên tới hàng nhiều trăm ngàn người, và có những vụ án như đối với
các khoa học gia như Giordano Bruno (bị thiêu sống) và Galileo Galilei (Bị
giam tại nhà cho đến khi chết)
Vậy, công lý ở đâu, công bằng
ở đâu, bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?
Trong 5 thế kỷ gần đây, giáo hội
CaTô Giáo RôMa đã hoặc làm chủ chốt, hoặc đồng lõa với chính sách thực
dân của các đế quốc ở Âu Mỹ, bành trướng trên khắp thế giới, giết
người, hủy diệt các nền văn hóa địa phương để truyền đạo. Chính
Giáo Hoàng John Paul II đã công nhận điều này và ngỏ lời xin lỗi các quốc
gia về những bất hạnh mà KiTô Giáo đã mang tới đất nước của họ.
Vậy, công lý ở đâu, công bằng
ở đâu, bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?
Trong Cựu Ước Thần dạy rằng không
được thờ phụng Thần khác, phải phá hủy mọi tượng Thần khác, nếu
không thì Thần ghen và sẽ trả thù ghê gớm. (Sẽ chứng minh trong một đoạn
sau) Trong Tân Ước Giêsu dọa: kẻ nào không tin ta, theo ta thì sẽ bị đầy
đời đời kiếp kiếp xuống hỏa ngục. Nhân quyền ở đâu? Công bằng
ở đâu? Bác ái ở đâu? Ý niệm về con người của KiTô giáo là như thế
nào? Là con người được Thần ban cho một ý chí tự do (free will), nhưng cái
tự do này là cái quyền tự do duy nhất để thờ phụng và sợ Chúa, cái
tự do duy nhất là phải là một tín đồ KiTô Giáo.
Muốn nói hay nói giỏi thế nào cũng
được, người ta chỉ nhìn vào những thảm họa giáo hội đã đem đến
cho nhân loại. Giáo dân thì có thể vì lẽ nào đó không biết đến những
thảm họa này, nhưng lịch sử thế giới còn đó, lịch sử giáo hội còn
đó, không ai có thể che dấu hoặc xuyên tạc, vì ngày nay giáo hội không
còn quyền lực để mà đốt đi mọi chứng tích lịch sử và ngụy tạo lịch
sử như trong quá khứ.
Có lẽ chúng ta cũng nên đọc đoạn
sau đây của John Remsburg trong cuốn "False Claims", trg. 24, để có một
hiểu biết tổng quát về cái gọi là quan niệm về nhân quyền, dân quyền,
công bằng và bác ái của KiTô Giáo:
"Giáo hội tự nhận là hội
bảo vệ tự do tôn giáo và dân sự. Thực ra là tự do của con người
chưa bao giờ có một kẻ thù nào ghê gớm hơn. Nơi nào mà KiTô là thiểu
số thì họ đòi cho được tự do tôn giáo, nơi nào đa số thì họ không
bao giờ chấp nhận tự do tôn giáo.
Mười ngàn lời tán tụng đã tặng
cho những nhà lập Thanh Giáo (Một tông phái KiTô) ở New England, như họ tự
nhận, là đã thiết lập tự do tôn giáo ở nước này. Nhưng quan niệm về
tự do của Thanh giáo là như thế nào? Họ ủng hộ loại tự do nào? Tự
do chỉ được là một tín đồ Thanh giáo! Chỉ đơn giản như vậy thôi. Rồi
nữa, những ông tòa xử dị giáo Tây Ba Nha cũng ủng hộ tự do tôn giáo -
cái tự do chỉ được là một tín đồ CaTô ngoan đạo...
Sự thật là nếu anh thấy bất cứ
ở đâu một tông phái của giáo hội KiTô, tôi không cần biết nó mang
cái tên gì - CaTô hay Tin Lành, Luther hay Tân giáo, Trưởng lão hay Giám Lý -
anh sẽ thấy đó là một kẻ thù của tự do. Trái đất của chúng ta đã
bị bao phủ bởi tro bụi của nhiều triệu người bị giết, giết bởi giáo
hội, chỉ vì họ dám có những quan điểm không được chính thống.
"Nhưng bây giờ giáo hội
không còn giết nữa," hình như tôi nghe nhà bảo vệ tín lý KiTô nói.
Không, một con hổ yếu sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi. Bây giờ
Giáo hội không giết được nữa vì không còn quyền lực để mà giết.
Bó củi (để thiêu sống người. TCN) và thanh gươm (để giết người.
TCN) đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và bây giờ
giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống."
(The Church claims to be the guardian of
civil and religious liberty. Yet human liberty has never had a deadlier foe. If a
Christian minority has pleaded for religious liberty, a Christian majority never failed to
deny it.
Ten thousand eulogies have been bestowed
upon the Puritan Fathers of New England, for having, as it is claimed, established
religious liberty in this country. But what was the Puritan conception of religious
liberty? What liberty did they advocate? The liberty to be a Puritan! Simply this and
nothing more. So, too, did the Spanish Inquisitors advocate religious liberty - the
liberty to be a good Catholic. The fact is that wherever you find a fragment of the
Christian Church, I care not what name it bears - Catholic, or Protestant, Lutheran or
Episcopal, Presbyterian or Methodist - you find an enemy to liberty. Our earth is covered
with the dust of murdered millions, murdered by the church, and for no other crime than
having dared to entertain opinions that were not orthodox.
"But the church does not kill
now," methinks I hear the Christian apologist exclaim. No; a tiger weakened by the
pangs of death grows less and less ferocious. The church does not kill now because it does
not have the power to kill. The fagot and the sword have been wrested from her bloody
hands, and hatred and slander are the only weapons left her now.)
Vậy, công lý ở đâu, công bằng
ở đâu, bác ái ở đâu, nhân quyền ở đâu?
Bản tuyên ngôn nhân quyền năm 1948
của Liên Hiệp Quốc là của một tổ chức các quốc gia với những chính
quyền thế tục, chứ không phải của các giáo hội KiTô Giáo. Và ngay cái
bản tuyên ngôn nhân quyền này cũng bị các quốc gia Á Châu chỉ trích.
Trong cuộc hội nghị các Quốc Gia ở Đông Nam Á (ASEAN) tổ chức ở Kuala
Lumpur, Mã Lai Á, vào cuối tháng 7, 1997, Thủ Tướng Mã Lai Á Mahatier Mohamad
đã lên án Hoa Kỳ là một đồng minh không thể tin cậy được và chỉ
toan tính mục tiêu đế quốc xâm lược văn hóa trước mặt ngoại trưởng
Mỹ Madeleine Albright (repeatedly implied that the U.S. is an unreliable ally guilty of
culture imperialism), ca ngợi cuộc chiến thắng của Việt Nam: "các
binh sĩ trong những bộ bà ba đen mà người ta thường chế nhạo, đã chống
lại mọi khó khăn và chiến thắng một cường quốc bậc nhất trên thế
giới" (..against all odds...its much-derided soldiers in black pyjamas won
against the greatest power on earth), và cho rằng bản tuyên ngôn nhân quyền của
Liên Hiệp Quốc đã lỗi thời, cần phải duyệt lại vì nó được lập
theo công thức của các siêu cường không hiểu gì về những nhu cầu của
các xứ nghèo (..the UN Universal Declaration on Human Rights needs to be
revised...it is an outdated document "formulated by superpowers which did not
understand the needs of poor countries")
Từ những sự kiện lịch sử và
những tài liệu nêu trên, có ai có thể tin rằng công bằng, bác ái và
nhân quyền đều phát xuất từ KiTô Giáo?
4.Ông Đỗ Mạnh Tri giảng giáo
lý cứu rỗi và ca tụng tính cách phi thường của GiêSu:
"Ý nghĩ về tội, trước hết
là một ý nghĩ tích cực. Kẻ làm điều ác, biết mình có tội, bị lương
tâm cắn rứt, là còn nhìn ra điều lành, còn hi vọng cải tà quy chính. Người
KiTô giáo gọi là trở về với Chúa. Nếu bạn không tin cũng không khó hiểu
người tin: trở về với Chúa cũng là trở về với chính mình, trở về với
ánh sáng thiện tâm, với tâm tánh con người; trở về với tình người.
(...)Nếu có một Thiên Chúa nhân từ,
thì tin vào ơn tha thứ và cứu độ của Ngài cũng chẳng có gì là ỷ lại,
buông xuôi như nhiều người hiểu một cách nông cạn.
(...)Trong Tin Mừng Luca (5,3-8) có
một giai thoại rất ý nghĩa. Phêrô và các bạn ông ta đánh cá suốt đêm
không lấy được một con. Về sáng khi đã chèo thuyền về, Giêsu xin
Phêrô chèo thuyền ra đánh cá nữa. Phêrô bảo đã mệt nhọc cả đêm chẳng
được gì. Phêrô có ý nói: Ngài rao giảng thì Phêrô nghe và kính phục,
nhưng công việc chài lưới là chuyện nghề nghiệp, vấn đề chuyên môn,
cứ tin Phêrô này đi, đừng tốn công vô ích. Nhưng Giêsu không nghe, cứ cố
nài. Để làm vui lòng Giêsu, Phêrô chèo thuyền thả lưới. Thế rồi cá mắc
lưới nhiều đến nỗi kéo không nổi phải hô người tới giúp. Nhưng Phêrô
quên cá, quên lưới, quỳ sụp trước Giêsu, cung kính: "Lậy Thầy, xin
đừng đụng vào tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi." Phản ứng của Phêrô
bất ngờ không kém mẻ cá đầy lưới của ông.
(...)Theo như lời kể của Phúc Âm
thì mẻ cá kỳ lạ kia đã khiến Phêrô nhận ra tính cách phi thường của
Giêsu, tức là nhận ra và kính phục một Con Người vượt xa mình một
cách không thể đo lường. Phêrô không được như vậy. Nhưng Phêrô có khả
năng nhìn ra cái khoảng cách giữa mình và Con Người ấy. Tất cả ở cái
khả năng này."
Lời bàn của TCN:
Ta không nên lẫn lộn tội ác với
tội tổ tông. Nếu đồng hóa tội ác với tội tổ tông, chỉ cần sám hối
là có thể trở về với Chúa thì bí tích "rửa tội" trở thành
vô nghĩa. Một đứa bé mới sinh ra, chưa ý thức được điều gì, có tội
tình gì đâu và có phạm tội ác nào đâu mà phải rửa tội? Chỉ cần trở
về với ánh sáng của thiện tâm, như trong đạo Phật, thì đâu cần phải
rửa tội, đâu cần phải tin vào Chúa Giêsu. Ta cũng không nên đồng hóa
Chúa với thiện tâm, với tình người vì Chúa là một nhân vật lịch sử,
đã được sinh ra, sống và chết như mọi người khác.. Ta chỉ có thể
nói Chúa có thiện tâm, có tình người chứ không thể nói Chúa là thiện
tâm, là tình người, khoan nói đến chuyện là Chúa làm gì có thiện tâm,
có tình người, nếu ta tin những chuyện ở trong Thánh Kinh. Thật ra thì
theo Thánh Kinh Chúa có tính đồng bóng, lúc thiện lúc không. Nhưng cái
thông điệp chính của Tân Ước không phải là vấn đề thiện hay không
thiện, mà là cứ tin vào Chúa thì sẽ được cứu rỗi, thế thôi. Tất cả
những điều khác đều là phụ.
Những tín đồ KiTô giáo tin rằng
có một vị Thần sáng tạo rất nhân từ. hay là toàn nhân (omnibenevolent).
Không những thế mà còn toàn năng (omnipotent) và toàn trí (omniscient). Vì
không đọc Thánh Kinh nên họ không hiểu rằng những thuộc tính trên là
những thuộc tính không thể nào có.
Chúng ta hãy tạm quên những khám
phá bất khả phủ bác của khoa học, như trái đất đã có từ 4 tỷ rưỡi
năm, vũ tru đã có từ 15 đến 20 tỷ năm nay, và chấp nhận là có một vị
Thần toàn năng, toàn trí, toàn nhân sáng tạo ra thế giới này khoảng 6000
năm vê trước. Hiện nay ở trên TV vẫn còn có những nhà truyền giáo khoa
chân múa tay đoan chắc với đám thính giả ngơ ngáo là Thần đã tạo ra vũ
trụ trong 6 ngày và cách đây khoảng 6000 năm.
Nhưng toàn năng là quyền phép vô
cùng, có thể tạo ra bất cứ gì, thí dụ như một hình tam giác có 4 góc,
một con số lớn hơn 10 (10% lợi tức cúng cho nhà thờ) nhưng lại nhỏ
hơn 9, một phương trình bậc hai có 4 ẩn số, một giáo hội CaTô toàn thiện
v...v... Vì những tạo vật trên chưa từng hiện hữu trên thế gian nên thuộc
tính toàn năng không thể hiện hữu. Nếu thuộc tính toàn năng không thể
hiện hữu thì một vị Thần toàn năng cũng không thể hiện hữu. Kết luận:
một vị Thần toàn năng chỉ hiện hữu trong sự hoang tưởng của loài người,
do chính con người tạo ra. Cũng vì vậy mà đại đa số các nhà khảo cứu
tôn giáo ngày nay đã đồng ý ở một điểm: con người tạo ra Thượng Đế
và vì vậy Thượng Đế nên thờ phụng con người thay vì con người thờ
phụng Thượng Đế.
Tôi xin kể cho quý bạn đọc một
câu chuyện vui trong Thánh Kinh để chứng minh chính con người đã tạo ra
Thần theo hình ảnh của con người chứ không phải là Thần tạo ra con người
theo hình ảnh của Thần.
Trong Deu. 23. 10-14 (Phục Truyền) Thần
phán:
"Chỗ đi tiểu đi tiêu phải
ở ngoài trại lính. Mỗi người phải có một cái thuổng, và mỗi khi đi
cầu (đại tiện) xong thì phải đào một cái lỗ nhỏ để chôn phân vì
Thần đi dạo trong trại để giúp các ngươi chiến thắng quân thù không
muốn nhìn thấy những thứ nhơ bẩn, nếu không Thần sẽ bỏ các ngươi."
Một số binh sĩ Mỹ sang Việt Nam
tin rằng để "Kill a gook for God", (Xin xem "Vietnam: A Television
History). vậy Mỹ thua ở Việt Nam chắc cũng là vì binh lính đi cầu không
chôn phân nên Thần giận Thần bỏ đi không giúp nữa. Bàn chơi vậy thôi
chứ lời mạc khải của Thần ở trên (Thánh Kinh được coi là những lời
mạc khải của Thần) không có dính dáng gì tới VN cả vì Thần đâu có
biết là có nước Việt Nam ở phía bên kia của quả địa cầụ, Thần
khi đó chỉ có thể biết rằng "quả đất" thì dẹt, có 4 góc,
và ở trên có một vòm trời bằng đồng thau, có những cánh cửa để cho
thiên thần mở ra đổ nước xuống thành mưa. Trí tuệ con người thời bán
khai, những người viết Thánh Kinh, không thể ngờ được là ngày nay người
ta đã phát minh ra cái cầu tiêu máy, nếu không thì đoạn trên trong Thánh
Kinh phải đổi là đi cầu thì phải giật nước, nếu không thì bị phạt
100 đô la như ở bên Singapore, giả thử là khi tạo dựng ra vũ trụ Thần
biết là có nước Singapore..Những điều viết trong Thánh Kinh cũng chứng tỏ
không làm gì có chuyện toàn trí, vì toàn trí có nghĩa là biết hết mọi
sự, biết hết quá khứ vị lai. Hơn nữa, xét cho cùng thì toàn năng và
toàn trí là hai thuộc tính có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual
exclusive). Nhưng tôi không muốn làm mất thì giờ của bạn đọc nên không
đi sâu vào vấn đề này nữa.
Các nhà bảo vệ tín lý diễn giải
rằng, vào thời bán khai, trí tuệ con người chưa mở mang, nên những lời
mạc khải của Thần cũng phải "tùy duyên" mà phát biểu. Họ
quên rằng, nếu vậy thì Thánh Kinh không còn thích hợp với con người ngày
nay vì trí tuệ con người ngày nay đã tiến xa so với trí tuệ những người
cách đây 6000 năm, và chỉ có những con người có trí tuệ ở mức 6000 năm
về trước mới có thể tin vào Thánh Kinh.
Luật đào lỗ chôn phân của Thần
ở trên, và nhiều chuyện lẩm cẩm tương tự khác ở trong Thánh Kinh, thí
dụ như trong Phục Truyền 25:11-12: "Khi 2 người đàn ông đánh nhau,
nếu vợ của một người xông vào tiếp cứu chồng và nắm vào chỗ kín
của người kia, thì phải chặt bỏ tay của người đàn bà, không thương
sót", chứng tỏ con người đã tạo ra Thần theo sự hiểu biết và
hình ảnh của con người, và toàn năng chẳng qua chỉ là một thuộc tính
mà con người khao khát trước những thiên tai hay trước cả những hiện
tượng thông thường như sấm sét, bão lụt, bệnh tật v...v...mà con người
khi đó không đủ trí tuệ để hiểu, cho đó là những cơn thịnh nộ của
Thần. Chẳng cứ ở thời bán khai mà ngay năm ngoái, 1996, ở trên nước Mỹ
văn minh nhất mà vẫn có ông mục sư tuyên bố là trận lụt lớn ở miền
Trung Tây (Midwest) nước Mỹ là do Thần. tạo ra để trừng phạt con người
ở miền đó vì có nhiều người đồng tình luyến ái. Cách đây 2 năm, tôi
đọc trên Vietnet, có một bạn phàn nàn rằng ở Việt Nam "người
ta" vẫn dạy trẻ con là mọi sự xảy ra trên trái đất này, thí dụ
như mưa, bão, sấm, sét v..v..đều do Thần tạo ra. Thật là tội nghiệp
cho đám trẻ con này.
Nhưng giả thử chúng ta tạm tin là
chính Thần đã tạo ra sấm sét để hả bớt những cơn thịnh nộ. Điều
này dẫn đến một sự kiện kỳ quặc: Sét của Thần cứ nhè nóc nhà thờ
mà đánh chứ không đánh vào chùa. Tại sao vậy? Vì các cây Thánh Giá ở
trên nóc nhà thờ, cao nghệu và vươn lên trời với một vẻ kiêu ngạo,
khiêu khích và thách đố Thần nên Thần sai Thiên Lôi đánh cho bõ ghét.
Còn nhà chùa thấp hơn, khiêm tốn hơn nên tuy không tin và thờ Thần, Thần
cũng bỏ qua, không chấp, hay "không đánh được mày tha mày làm
phúc". Vả chăng các con chiên của Thần phá chùa, cướp chùa kể
ra cũng quá đủ rồi, Thần khỏi cần phải ra tay. Các cha "trụ
trì" nhà thờ, tuy không đội trời chung với khoa học, nhưng để chống
lại Thần bèn lắp một cái cột thu lôi trên nóc nhà thờ, hoặc dùng ngay
cây thánh giá làm cột thu lôi, để cho nhà thờ khỏi bị sét đánh. Từ
đó trở đi, những cơn thịnh nộ sấm sét của Thần đều bi cái phát
minh của cụ Benjamin Franklin hóa giải hết nội lực, nhà thờ không còn bị
Thần tàn phá nữa, và các con chiên bèn hết lời cảm tạ tấm lòng nhân
từ của Thần. Ngoài ra nhà thờ nào cũng mua bảo hiểm để nhỡ có bị
Thần phá thì còn có bồi thường. Các cha khôn thật, chính mình thì không
tin ở Thần sẽ phù hộ cho các nơi thờ Thần, nhưng lại cứ dạy con chiên
phải tin vào Thần, thờ phụng Thần, và...đóng tiền cho nhà thờ để các
cha chống lại Thần và trả tiền Tòa phạt những ông cha làm bậy. Như vậy
có phải là kỳ quặc không?
Câu chuyện "danh ca" Phêrô
trên làm cho tôi suy nghĩ đến nhiều vấn đề.
Giêsu quả là không có lòng thương
người. Phêrô đã đi đánh cá suốt đêm, chẳng được con cá nào, mệt
phờ cả râu ra mà Giêsu còn không để cho Phêrô nghỉ xả hơi, cứ cố nèo
Phêrô đi ra khơi nữa để cho Ngài...trổ tài đánh cá. Đã mệt mỏi lại
càng thêm mệt mỏi, đầu óc hoang mang, Phêrô nhận ra Giêsu quả thật phi
thường.
Tại sao trước đây Phêrô không nhận
ra tính cách phi thường của Giêsu, mà phải chờ Giêsu trổ tài đánh cá
ra (các chuyên gia khảo cứu Thánh Kinh cho rằng Giêsu có thể biết đóng
bàn ghế vì là con của một ông thợ mộc (Joseph) chứ không có tài đánh
cá) mới nhận ra? Mà Phêrô đâu có quên cá quên lưới, vì Phêrô đã phải
gọi người đến giúp để vớt mẻ cá khổng lồ kia lên. Ngoài ra Thánh
Kinh còn kể rõ ràng là Phêrô lấy làm ngạc nhiên vì mẻ cá trên (For he
and all who were with him were astonished at the catch of fish) Đọc kỹ Thánh Kinh
chúng ta thấy Giêsu đến giảng đạo cho một nhóm "danh ca" nhưng
chẳng có ai theo cho đến khi ngài trổ tài đánh cá ra Phêrô mới kính phục
và bỏ thuyền bỏ lưới đi theo ngài. Nếu ngày nay mà Phêrô nhìn thấy
David Copefield đi xuyên qua bức tường của Vạn Lý Trường Thành, hay thấy
một Houdini Ấn Độ được chôn xuống đất mấy ngày mà đào lên vẫn sống
thì Phêrô chắc còn phục hơn là phục Chúa Giêsu.
Nhưng vấn đề ở đây không phải
là chuyện đó có thực hay không. Vấn đề là ở chỗ Giêsu phải nhờ
vào những phép lạ để thu nhặt tín đồ, cũng như nhiều lần tương tự
khác rải rác trong Thánh Kinh.. Phêrô thấy Giêsu khác lạ, phi thường sau một
mẻ cá mà kết quả là hàng ngàn con cá sẽ được biến thành ít ra là
cá 7 món: cá nướng, cá chiên, cá luộc, cá kho tộ, cá hấp, cá canh chua,
và chả cá.
Để bớt đi mùi cá, chúng ta hãy
đọc một đoạn trong "Đường Xưa Mây Trắng" của Thiền Sư
Thích Nhất Hạnh về sự khác lạ của Siddhatta (Thái tử Tất-Đạt-Đa)
sau khi Ngài giác ngộ:
"...Vừa lúc ấy thì Svastika chạy
tới. Thấy chú bé chăn trâu, Siddhatta mỉm miệng cười. Svastika đứng dừng
lại. Cậu bé nhìn ông chăm chăm, hai mắt như bỡ ngỡ và miệng há to. Nó
quên cả chắp tay lên trán để chào. Siddhatta gọi:
- Svastika !
Chú bé giật mình đáp:
- Dạ !
Rồi mới chắp tay chào. Nó tiến tới
mấy bước nữa, ngừng lại, rồi lại đứng nhìn Siddhatta trân trân. Cuối
cùng nó thẹn thùng nói:
- Thưa thầy, hôm nay con trông thầy
rất khác lạ.
Vị sa môn vẫy no lại gần và ôm
nó trong hai tay. Ông hỏi:
- Con thấy ta khác thế nào ?
Úp mặt vào Siddhatta, Svastika nói:
- Con không biết. Con chỉ biết là
hôm nay thầy khác lắm. Con thấy thầy như một cái mặt trờị
Siddhatta xoa đầu cậu bé:
- Vậy hả con? Con thấy thầy như là
cái gì nữa?
Svastika nhìn lên:
- Con thấy thầy như một bông sen vừa
nở. Con lại thấy thầy như... như.. mặt trăng trên đỉnh núi Gayasisa.
Siddhatta nhìn vào mắt Svastika:
- Con là thi sĩ rồi đó......
Chúng ta hãy đọc một đoạn khác:
"Trưa hôm ấy khi mang cơm vào
rừng cho sa-môn Siddhatta, Sujata thấy ông đang ngồi dưới gốc cây pippala,
đẹp như một buổi sáng mai. Nét mặt ông rạng rỡ, toàn thân ông tỏa
chiếu sự an lạc và thanh tịnh. Đã hàng trăm lần Sujata trông thấy cảnh
tượng vị sa-môn ngồi tĩnh toạ trang nghiêm hùng tráng và đẹp đẽ dưới
gốc cây pippala, nhưng hôm nay cô bé cảm thấy một điều gì rất khác lạ.
Nhìn Siddhatta, Sujata tự nhiên cảm thấy tất cả những buồn lo của mình
tan biến và niềm vui phát hiện trong lòng cô như một ngọn gió mùa Xuân.
Cô có cảm tưởng rằng cô không còn ham muốn hay mơ ước một cái gì
trên cuộc đời này nữa cả. Tất cả vũ trụ như đã trở nên hoàn toàn
tốt lành, hoàn toàn đẹp đẽ và trong nhân gian không ai cần phải nhọc
nhằn lo lắng nữa...Cô bé cảm thấy rất an ổn và nhận ra rằng niềm an
lạc và thanh tịnh của thầy đã tỏa chiếu và đi vào trong con người của
cô..."
Thật là tuyệt vời. Không cần phải
trổ tài đánh cá. Không cần phải biết đi trên sóng. Không cần phải biến
nước lã thành rượu. Không cần phải biến 1 ổ bánh thành trăm ổ bánh.
Không cần phải đuổi quỷ ám ra khỏi con người. Không cần phải cứu
cho một người chết sống lại. Không cần phải bịa đặt ra bất cứ một
phép lạ nào. Sự khác lạ, phi thường hiện trên vẻ mặt, và trong những
tác phong đi đứng nằm ngồi.
Bàn về ơn cứu rỗi của Giêsu,
Thánh Kinh đã viết rõ: Giê-Su sẽ là đấng cứu thế của dân Do Thái (for
He will save His people from their sins) và chỉ của dân Do Thái mà thôi. Chứng
minh? Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew
15: 21-28:
"Thế rồi Giê-Su đi tới vùng
Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng
đó và kêu với Giê-Su "Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái
tôi đang bị quỷ ám nặng." Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một
tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hãy đưổi
bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta." Nhưng Giê-Su trả lời:
"Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi." Rồi
người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hãy
giúp tôi." Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái
mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào." Và người
đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ
thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của
chủ chúng xuống chứ." Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Lòng tin
của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà." Và con gái
bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó."
(21. When Jesus went out from there and
departed to the region of Tyre and Sidon. 22. And behold, a woman of Canaan came from that
region and cried out to Him, saying, "Have mercy on me, O Lord, Son of David! My
daughter is severely demon-possessed." 23. But He answered not a word. And His
disciples came and urged Him, saying, "Send her away, for she cries out after
us." 24. But He answered and said, "I was not sent except to the lost sheep of
the House of Israel." 25. Then she came and worshipped Him saying, "Lord, Help
me!" 26. But He answered and said, " It is not good to take the children's bread
and throw it to the little dogs." 26. And she said, "True, Lord, yet even the
little dogs eat the crumbs which fall from their masters' table." 28. Then Jesus
answered and said to her, "O woman, great is your faith! Let it be to you as you
desire." And her daughter was healed from that very hour.)
Tôi xin để cho các độc giả tùy
nghi nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong
câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Ca-Tô của tôi nghĩ thế nào
khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho mình có cùng
một thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên
để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa.
Nhưng Tiến Sĩ Madalyn O'Hair thì bình luận như sau:
"Trừ khi anh là người Do Thái,
chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự
"thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin
giới thiệu một nhà trị bệnh tâm thần" (Unless you are a Jew, you
are not wanted in this religion. For someone who really "truly feels in his heart
that Jesus is his Savior" I would recommend a psychiatrist.)
Và, Frederick Heese Eaton bình luận như
sau trong cuốn Scandalous Saints:
"Giê-Su thường nhắc nhở đệ
tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35;
Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới
nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng,
"Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew
15:26) Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó. Tại
sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi
Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự
biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự
phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành,
Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy
Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.
Thánh Paul viết rằng, theo lời mặc
khải của Thần Gia Tô, "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày
hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8) Vậy
nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương,
và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa."
(Jesus repeatedly admonished his disciples
to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a
non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, "It is not fit to
take the children (of Israel's) bread and to cast it to dogs." (Matthew 15:26) In
other words he said, "You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?"
How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is
hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this
woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The
facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.
Saint Paul writes, allegedly under
inspiration of God, "Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever."
(Hebrew 13:8) So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you
are not a Jew, you had better think it over again.)
TCN kết luận: To be (saved) or not to
be (saved), that's the question (for those who are not Jews).
5.Ông Đỗ Mạnh Tri giải thích
thế nào là tội tổ tông:
"Truyện Adam, Eva ăn trái cấm,
rồi bị Giavê phạt, chẳng cần là nhà Kinh Thánh học ta cũng có thể tưởng
đó là một huyền thoại - không phải là một ảo tưởng - lưu truyền
nơi nhiều dân tộc.
(...)Nếu Adam, Eva không bị đuổi
ra khỏi vườn Địa Đàng thì làm gì có chuyện, làm gì có loài người và
lịch sử loài người. Lịch sử chỉ khởi đầu bằng một tai họa. Một
tai họa không thể hiểu.
(...)Tội tổ tông có ngay từ đầu,
nhưng không là khởi đầu, không là nguồn gốc con người. Gốc tốt: Thiên
Chúa đã tạo dựng con người giống như hình ảnh của Ngài. Nhưng ngay từ
đầu con người đã phạm tội. Ngay từ đầu, con người tội lỗi, nhưng
con người không sinh ra từ tội lỗi. Căn nguyên, căn bản tốt, như ta nói:
nhân chi sơ, tính bản thiện. Tội tổ tông hiểu như vậy không phải là tội
lưu truyền thế hệ này qua thế hệ khác, kiểu đời cha ăn mặn đời con
khát nước.
(...)Cũng vẫn trong lôgích của truyện
Sáng Thế, Thiên Chúa đã dựng nên thế giới này tốt đẹp. Vợ chồng
Adam Eva đã dựng nên cái xấu. Thiên Chúa sáng tạo Thiện, con người sáng
tạo Ác. Chừng ấy kể cũng đáng gọi là Thiên Chúa."
Lời bàn của TCN:
Truyện Adam, Eva là một huyền thoại,
đúng vậy. Nhưng, một huyền thoại thường chỉ có giá trị tương đối
trong một quốc gia, trong một nền văn hóa chứ không thể có giá trị
trên toàn thế giới. Cho nên, lấy một huyền thoại trong lịch sử Do Thái
hay của một vài dân tộc làm một sự kiện lịch sử của nhân loại thì
quả thật là mơ hồ. Ngày nay, người nào còn tin ở chuyện Adam và Eva ở
trong vườn địa đàng thì chúng ta có thể gõ vào đầu người đó và
nghe thấy một tiếng vang, vì nó rỗng tuếch. Theo như Thánh Kinh thì chuyện
Adam , Eva xảy ra cách đây khoảng 6000 năm, khi mà Thần tạo dựng ra vũ trụ
và "mặt phẳng" đất (không biết cả quả đất tròn). Khoa học
ngày nay đã chứng tỏ tuổi của trái đất ít ra là 4 tỷ năm rưỡi, và
tuổi của vũ trụ thì vào khoảng từ 15 tới 20 tỷ năm. Những dữ kiện
trên không ai có thể phủ bác được, kể cả Giáo Hoàng John Paul II, đại
diện của Giêsu trên trần. Vậy mà còn có nhiều người vẫn tin rằng:"Nếu
Adam, Eva không bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, làm gì có loài người
và lịch sử loài người?" và rằng "Lịch sử loài người
khởi đầu bằng một tai họa" nhưng lại là một tai họa không thể
hiểu. Than ôi ! Đầu óc thời Trung Cổ. Đã cho rằng chuyện Adam và Eva là
một huyền thoại mà lại khẳng định rằng không có Adam và Eva thì làm
gì có lịch sử loài người, có mâu thuẫn ở đây không? Một mặt khác,
khi đã cho rằng chuyện Adam và Eva trong vườn địa đàng là một huyền
thoại thì điều này kéo theo chuyện tội tổ tông do Adam và Eva sa ngã cũng
chỉ là một huyền thoại, và chuyện Jesus giáng trần cứu thế cũng không
gì khác hơn là một huyền thoại. Thật vậy, Adam và Eva không có thật
thì làm gì có tội tổ tông, không có tội tổ tông thì ai cần ai cứu rỗi,
không ai cần ai cứu rỗi khỏi tội tổ tông thì vai trò cứu rỗi của
Jesus trở thành chuyện hoang đường. Cám ơn ông Đỗ Mạnh Tri đã khai
sáng cho chúng tôi một chuyện.
Nhưng dù ta có vứt mọi suy luận
vào sọt rác và tin vào chuyện Adam và Eva đi chăng nữa, thì cái tai họa
khởi sự lịch sử loài người là cái tai họa gì? Chúng ta nên nhớ rằng,
trước khi ăn đại một quả trên cây hiểu biết thì Adam chưa phân biệt
được thế nào là phải là trái. Tại sao Thần lại đổ lên đầu Adam cái
tội trái lời Thần khi mà Adam không hề biết hành động đó là trái lời
Thần? Ăn vụng một trái táo, cũng như một đứa trẻ ăn vụng một cái kẹo
mà bố mẹ nó đã cấm, mà gọi là gây ra tai họa cho cả loài người?
Như vậy mà gọi là nhân từ, công bằng hay sao? Chỉ có những bộ óc đậu
hũ mới tiêu hóa nổi cái lý luận quái gở này. Thông thường thì chỉ cần
phạt nhẹ và khuyên lần sau không được cưỡng lời nữa là đủ. Đằng
này, chỉ vì một cái chuyện nhỏ nhoi mà phạt vả loài người hết kiếp
này đến kiếp khác, sao mà ác vậy. Thần tạo ra con người nhưng lại muốn
cho con người ngu muội suốt đời, không biết phân biệt thế nào là phải
với trái, là thiện với ác, nên mới cấm Adam ăn quả trên cây hiểu biết.
Như vậy, con người được sinh ra từ một ác tâm của Thần chứ không phải
là từ một thiện tâm. .Nếu Adam tuân theo lời Thần thì loài người sẽ
trở thành thế nào? Không khác gì loài bò. Cho nên Robert G. Ingersoll đã
nói:
"Hãy đầy tôi ra khỏi vườn
địa đàng khi nào ông muốn, nhưng trước hết hãy để tôi ăn cái quả
trên cái cây hiểu biết đã" (Banish me from Eden when you will, but first
let me eat the fruit of the tree of knowledge.)
Nhân chi sơ, tính bản thiện? Đúng
vậy, Đông phương quan niệm như vậy. Một học giả Tây phương cũng nói:
"Con người sinh ra vốn tốt, chính xã hội đã làm con người hư hỏng"
(L'homme est né bon, c'est la société qui l'a corrompu). Nhưng trong KiTô Giáo thì
không phải vậy mà là "Nhân chi sơ, tính bản ác". Vì ác cho nên mới
có tội. Vì có tội cho nên mới phải "rửa tội", cho nên một đứa
bé mới sinh ra, trong trắng như thiên thần, đã vác nó đi để cho những bàn
tay lông lá rửa tội cho nó. Nó có tội gì? Tội của Adam? Vậy quít làm
cam chịu?. Nếu tội tổ tông không phải là tội lưu truyền thế hệ này
sang thế hệ khác, thì "rửa tội" và "chuộc tội", "cứu
rỗi" trở thành vô nghĩa. Vì tội của Adam mà mọi người phải chết.
Vậy không phải là lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì là
cái gì? Ngay từ đầu, con người tội lỗi. Như vậy là tất cả con người
về sau đều tội lỗi? Thật là một lý luận quái gở vì như vậy là cho
rằng trên thế gian này không có người nào lành thiện hết hay sao? Nếu
có những người lành thiện thì họ mắc mớ gì đến cái gọi là tội tổ
tông?
Như trên đã chứng minh, dựa vào
Kinh Thánh, là con người tạo ra Thần chứ không phải là Thần tạo ra con
người giống như hình ảnh của ngài. Hơn nữa, hình ảnh của Ngài là
hình ảnh nào? Ai biết? Ai thấy? Nó chỉ nằm trong óc tưởng tượng của
con người. Điều rõ ràng là con người càng văn minh tiến bộ thì hình
ảnh của Thần cũng tiến bộ theo. Với thời gian con người đã văn minh hóa
Thần. Thần ngày xưa đi cầu thì phải đào lỗ chôn phân. Thần ngày nay,
ở các nước văn minh tiến bộ thì giật nước đến xòe một cái. Thần
ngày xưa ngồi trên vòm trời bằng đồng thau, bên phải là Thần Con:
Giêsu. Kính thiên văn do Galilei phát minh ra quét khắp vòm trời không thấy
Thần đâu, và Thần bây giờ được giải thích là nằm ngoài sự hiểu biết
của con người. Nhưng những nhà truyền giáo lại vẫn cứ quả quyết rằng
Thần có những thuộc tính toàn năng, toàn trí, toàn nhân, và rằng Thần
muốn chúng ta phải thế này, thế nọ, làm như họ đã hiểu được Thần,
ngày ngày bắt tay "bông-jua" Thần và biết Thần như chính lòng
bàn tay của họ. Chuyện hoang đường nhưng bao giờ cũng có những người
tin, thế giới của con người đầy những bộ óc đậu hũ. .
Nhân tốt có bao giờ sinh ra quả xấu?
Thần tạo ra loài người giống như hình ảnh ngài, nhưng khi người xấu
thì ngài trốn trách nhiệm đổ mọi tội lên loài người. Thay vì tự tử
để tạ tội với trời đất do chính mình tạo ra, Thần lại đi giết toàn
thể nhân loại: nam phụ lão ấu không phân biệt chỉ chừa lại gia đình
một tên say rượu (Noah). Chả trách được trong thế giới KiTô giáo, con
người cứ điên đảo, đảo điên, tận tình giết nhau bằng thích, cho đến
ngay cả bây giờ. Giết ngày không đủ, tranh thủ giết đêm, giết thêm
ngày "Chúa Nhật".
Để so sánh, tôi xin trình bày sơ
lược, hết sức sơ lược, quan niệm về lịch sử loài người của Phật
Giáo. Phật giáo cho rằng lịch sử loài người là vô thỉ vô chung. Vô thỉ
có nghĩa là không có lúc bắt đầu, và loài người sẽ còn tồn tại lâu
lắm, không biết lúc nào tận cùng (vô chung). Đúng boong. Tuy khoa học ngày
nay đã chứng minh rằng tuổi của trái đất là vào khoảng 4 tỷ rưỡi
năm, và tiên đoán chỉ tồn tại khoảng 5 tỷ năm nữa, nhưng điểm bắt
đầu cũng như tận cùng của loài người không thể biết một cách chính
xác được. Nhưng then chốt của vấn đề, theo Phật Giáo, là vạn pháp
được tạo ra theo thuyết duyên sinh, không đủ duyên thì không thành, và
khởi sự từ vô minh. Vô minh là u mê, không có trí tuệ. Theo thuyết mới
nhất của khoa học ngày nay thì khởi đầu là những vi khuẩn (bacteria) nghĩa
là những tế bào đơn độc (single cells) trong các hạt bụi vũ trụ, phát
xuất từ một sự nổ bùng lớn (big bang) của một dị điểm (singularity)
vô cùng nóng, vô cùng đặc. Một số những vi khuẩn này gặp đủ các điều
kiện thích hợp trong không gian và tiến hóa thành những sinh vật trong đó
có loài người. Tiến trình này kéo dài khoảng 4 tỷ năm. Vì sự xuất hiện
của loài người nằm trong một quá trình tiến hóa và trở thành, liên tục
kéo dài hàng tỷ năm nên không thể biết điểm bắt đầu của loài người.
Cấu tử căn bản của mọi sinh vật, từ một vi khuẩn, một tế bào đơn
độc cho đến con người là một đại phân tử DNA (DeoxyriboNucleic Acid), hợp
bởi 4 nguyên tố: C, H, O, và P (Carbon, Hydrogen, Oxygen, Phosphorous). Trong một
tế bào các phân tử DNA được xếp đặt thành những nhiễm sắc thể
(Chromosome). Những mẩu chuyên biệt (specific bits) của DNA trong các nhiễm sắc
thể được gọi là "mầm giống" hay "gen" (Gene). Chính các
gen này sẽ quyết định là con người sinh ra như thế nào, đen hay trắng,
mắt xanh hay nâu v...v... Cho tới bây giờ, đây là cách giải thích hợp lý
nhất, (nhưng không loại bỏ trường hợp trong tương lai có thể có những
giải thích rõ ràng hơn, chi tiết hơn khi sự hiểu biết của con người ngày
càng tiến bộ), chứ không như Thánh Kinh khẳng định rằng loài người là
hậu duệ của Adam và Eva. Chưa có ai từng thấy một cặp vợ chồng Do
Thái nào sinh ra một người Việt hay một người da đen. Hơn nữa, suốt từ
Adam tới Giêsu, các thế hệ toàn là người Do Thái. Có thể tin được không
là từ năm 0 tới bây giờ, chưa đầy 2000 năm mà trên thế giới đã sinh
ra bao nhiêu là sắc dân màu da khác nhau, ngôn ngữ khác nhau v...v...? Các
nhà bảo vệ tín lý đưa ra nhiều lý luận để giải thích tội tổ tông
nhưng họ cứ như là trong mùa đông ở nơi không có lò sưởi mà đắp một
cái mền nhỏ, kéo che chỗ này thì nó hở chỗ khác, kéo đi kéo lại, hở
vẫn hoàn hở.. Thực ra thì Tòa Thánh đã công nhận thuyết "Big
Bang" và thuyết tiến hóa, nhưng mấy con chiên có đầu óc khuyết tật
(an astrolabe mind: sẽ nói rõ trong một đoạn sau. TCN) vẫn khư khư cho rằng
Adam và Eva là tổ tông của loài người và ăn vụng một trái táo là một
tai họa cho loài người vì đã tạo nên cái gọi là "tội tổ
tông", và ăn đại một trái táo là một "tội ác" không thể
tha thứ được.
Lẽ dĩ nhiên, một vi khuẩn thì
không thể có trí tuệ, nghĩa là ở trong trạng thái vô minh. Và nếu những
tế bào đơn độc này không gặp đủ duyên như hơi nước, hơi ấm
v...v... thì không thể phát triển và tiến hóa thành loài người. Vậy thuyết
về nguồn gốc vũ trụ và con người của nhà Phật: bắt đầu từ không
có điểm bắt đầu, khởi sự từ vô minh và do duyên sinh lại đúng boong
nữa. Đây là một đề tài rất lý thú nhưng không thuộc phạm vi bài
này, tôi sẽ trình bày đầy đủ chi tiết về đề tài này trong một bài
khác.
Lôgic của chuyện sáng thế chỉ để
cho những người không có đầu óc lôgic đọc, vì lôgic và chuyện sáng thế
thì bất khả tương hợp (incompatible). Bản chất của một tôn giáo cứu rỗi
là phi lôgic vì tất cả chỉ dựa vào một niềm tin không cần hiểu,
không cần biết.. Chưa kể là Adam chỉ không vâng lời Thần, ăn đại một
trái táo, thì được kể là xấu. Còn Thần thì giết hại vô số người
do chính mình tạo ra thì kể là tốt. Cái lôgic này là lôgic kiểu gì vậy?
Thần là cái căn của thiện, Thần toàn năng sinh ra loài người nhưng con
người lại ác. Vậy lỗi tại Thần hay tại con người? Và toàn năng ở cái
chỗ nào? Các nhà bảo vệ tín lý cãi quanh cãi quẩn là Thần không muốn
con người là những người máy (robot) nên ban cho con người một ý chí tự
do (free will) và vì vậy mà con người phạm tội ác. Nhưng Thần ban cho con
người cái ý chí tự do này từ điểm nào trong cuộc đời? Từ khi còn
là cái bào thai trong lòng mẹ, từ khi sơ sinh, chập chững biết đi, trong
tuổi vị thành niên, khi đã trưởng thành, hay khi đầu óc trở thành như
đầu óc của Cựu Tông Tông Reagan hiện giờ (bị bệnh Alzheimer nặng,
không còn nhận biết sự việc)? Những đứa trẻ sinh ra đã bất bình thường
bởi trăm thứ tật nguyền có được Thần ban cho cái ý chí tự do này hay
không, và chúng sẽ xử dụng cái ý chí tự do này khi nào?
Một mặt khác, không tuân lời Thần
có phải là một tội ác hay không, hay đó chỉ là theo bản năng của một
ý chí tự do mà Thần đã ban cho con người. Nếu đã cho con người một ý
chí tự do thì phải tôn trọng ý chí tự do đó, tại sao Thần lại chỉ
chấp nhận có một loại ý chí tự do duy nhất là phải thờ Thần, tôn
kính Thần, tuân phục Thần dù rằng từ cái ý chí tự do đó con người có
thể thấy những thuộc tính của Thần không đáng thờ, không đáng tôn
kính, không đáng tuân phục. Vả chăng, hành xử ý chí tự do như thế nào
để dẫn tới sự xuất hiện của những vi trùng ho lao, dịch hạch, các
thiên tai, bệnh tật, là một điều hơi khó hiểu, nhưng cũng chưa ai giải
thích được. Chuyện lẩm cẩm càng ngày càng trở nên lẩm cẩm hơn,
nhưng mà vẫn có người tin, vì tin thì không biết, đã biết rồi thì...hết
tin..
6. Ông Đỗ Mạnh Tri trích dẫn
lời "Thánh" Augustin:
"Bạn Nguyễn Hoài Vân viết
mỉa mai về Augustin và thuyết tiền định, bạn quên câu thời danh của
Augustin: "Yêu thương mới là điều quan trọng."
Lời bàn của TCN:
Quên thì chắc không quên, chỉ là
không muốn nhớ mà thôi. Không muốn nhớ đến vài câu "Thánh
phán" thời danh khác của "Thánh" Augustin:
"Những kẻ thù như vậy, ta
thật ghét chúng thậm tệ: Ôi hãy giết chúng đi bằng lưỡi kiếm của
ngươi." (The enemies thereof, I hate vehemently: O that thou wouldest slay them
with thy two-edged sword.)
Những kẻ thù này là ai? Họ là những
người thuộc phái Ngộ Thuyết (Gnosticism), tìm sự giác ngộ qua sự hiểu
biết và kiến thức
Yêu thương mới là điều quan trọng.
Nhưng yêu thương kiểu này thì thật là đặc biệt và đặc thù CaTô,vì
ta thấy trong lịch sử CaTô Giáo RôMa đầy những sự yêu thương kiểu này.
Thánh Augustine (cha đẻ của nền thần
học CaTô và được CaTô giáo tôn sùng coi như là có trí tuệ siêu việt)
phán như sau về sự chuyển động của trái đất, :
"Không thể nào có chuyện
có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh kinh không ghi lại bất
cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam"
(It is impossible there should be
inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture
among the descendants of Adam.)
Thánh Augustin đã "bé cái lầm",
vì ở phía bên kia của trái đất ít ra là có ông Đỗ Mạnh Tri là hậu
duệ của Adam và Eva dù ông Tri thuộc giống người da vàng mũi tẹt. Nhưng
thời buổi này sửa lại mặt mũi cũng dễ thôi, chỉ cần bỏ tiền ra,
vào mỹ viện là xong, có thể biến thành người Do Thái mấy hồi.
7.Ông Đỗ Mạnh Tri bàn về
đức tin:
"Tin vào một Thiên Chúa toàn
năng mà để cùng hàng với chuyện ông Táo chầu trời, chú Cuội cung trăng
thì thật là thiếu nghiêm túc.
(...)Để làm sáng tỏ vấn đề một
chút, cần phải phân biệt tin và biết, vì đã tin tất không biết và nếu
biết tất không tin.
(...)Có thể phân biệt "tin rằng"
và "tin vào". Tin rằng là một thứ biết thiếu chính xác, không chắc
chắn, phi khoa học. Phần lớn những kẻ mê tín dị đoan thuộc loại
"tin rằng". "Tin vào" là một cách sống, một thái độ, một
cách ứng xử với tha nhân."
Lời bàn của TCN:
Tại sao lại là thiếu nghiêm túc
nhỉ? Bản chất những niềm tin đó như nhau vì "tin tất không biết
và nếu biết tất không tin". Như trên tôi đã chứng minh không làm gì
có chuyện toàn năng, nhưng người ta vẫn cứ tin vào một vị Thần toàn năng.
Chỉ cần nhin những sự việc xảy ra xung quanh mình cũng thấy toàn năng là
một thuộc tính tưởng tượng của con người. Toàn năng làm sao mà cho tới
bây giờ trên thế giới vẫn chỉ có khoảng 20% tin ở Thần toàn năng? Cách
đây khoảng 23 thế kỷ, triết gia Epicurus đã đặt vấn đề dưới dạng
tam đoạn luận (syllogism) như sau:
Hoặc Thần muốn hủy bỏ sự xấu
ác, và không thể
Hoặc Thần có thể hủy bỏ nhưng
không muốn
Hoặc Thần không thể, và không muốn
Nếu Thần muốn, nhưng không thể
làm được, Thần bất lực.
Nếu Thần có thể, nhưng không muốn,
Thần thật hư xấu.
Nếu Thần không thể và cũng không
muốn,
Thần vừa bất lực vừa hư xấu
Nhưng nếu (như họ thường nói) Thần
có thể hủy bỏ sự xấu ác
Và Thần thật sự muốn như vậy
Tại sao trên cõi đời này lại có
sự xấu ác?
(Either god wants to abolish evil, and
cannot;
Or he can, but does not want to;
Or he cannot, and does not want to.
If he wants to, but cannot, he is
impotent.
If he can, but does not want to, he is
wicked.
If he neither can, nor wants to,
He is both powerless and wicked.
But if (as they say) god can abolish evil,
And god really wants to do it,
Why is there evil in the world?)
Từ xưa tới nay, chưa có ai trả lời
được câu hỏi mà Epicurus đã đặt ra, dù những bộ óc kém cỏi đã
phát minh ra chuyện Thần muốn cho con người tự do, không muốn con người
là những người máy. Nhưng nếu Thần toàn năng thì tại sao không thể tạo
ra một con người tự do giới hạn, nghĩa là không thể có cái tự do làm
ác mà chỉ có tự do làm thiện mà thôi. Chuyện đã quanh quẩn lại trở
thành quẩn quanh..
Trên một khía cạnh khác, tin vào
Chú Cuội hay tin vào Táo Quân còn đỡ hơn tin vào một Thiên Chúa toàn năng,
vì chưa có ai nhân danh Chú Cuội hay Táo Quân để giết người hay ép người
khác phải tin vào Chú Cuội hay Táo Quân, trong khi không biết bao nhiêu người
đã tin vào Thiên Chúa và đã nhân danh Thiên Chúa để phạm phải không biết
bao nhiêu là tội ác và gây ra không biết bao nhiêu thảm cảnh cho nhân loại.
Thiếu nghiêm túc thì có thể, đối với một số người không hiểu thế
nào là nghiêm túc, nhưng bản chất sự tin vào Chú Cuội hay Táo Quân thì
lành thiện hơn nhiều.
Nếu ta không "tin rằng" có
một Thiên Chúa toàn năng thì làm sao ta có thể "tin vào" Thiên
Chúa đó? Chẳng có lẽ ta cứ "tin bừa" vào một Thiên Chúa toàn năng
mà không cần "tin rằng" có một Thiên Chúa toàn năng. Tin như vậy
là tin kiểu gì vậy. Thượng Tọa Thích Mật Thể viết rằng: "Tin mà
không hiểu thì chỉ là mù lòa tin bướng tin càn". Đức Phật cũng nói:
"Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta" . Có nhiều người chỉ
tin mà không cần hiểu, đó là nguyên nhân của những thảm họa trên thế
gian..
8.Ông Đỗ Mạnh Tri tuyên dương
phương tiện giáo dục của Thiên Chúa:
"Như trong tư tưởng của KiTô
giáo: Thiên Chúa dẫn dắt lịch sử và dù sao đi nữa, lịch sử vẫn dẫn
tới Thiên Chúa. Các ông vua Ai Cập hành hạ dân Do Thái nhưng các ông
không biết rằng chính Thiên Chúa đã dùng các ông như phương tiện
để giáo dục Dân Chúa."
Lời bàn của TCN:
Tư tưởng của KiTô Giáo là tư tưởng
bắt nguồn từ một niềm tin vào một quan niệm mà không hề có một ý niệm
nào về quan niệm đó. Thiên Chúa, như trên đã chứng minh, chỉ là một
quan niệm chứ không phải là một thực thể. Một mặt khác, nếu một vị
Thiên Chúa toàn năng, nhân từ mà dẫn dắt lịch sử với những cuộc chiến
tranh triền miên, với lò sát sinh (holocaust) của Đức Quốc Xã, với bao thảm
cảnh mà con người phải gánh chịu, với bao bệnh tật và khuyết tật cả
nơi những trẻ sơ sinh, thì tôi cho rằng thà không có vị Thiên Chúa đó
còn hơn. Một mặt khác, lịch sử mà dẫn tới Thiên Chúa là một lịch sử
của một thời đại man rợ và đen tối trí thức (dark ages), khi đó Âu
Châu chìm đắm trong một sự đen tối trí thức chưa từng thấy: đó là
khi mọi người bắt buộc phải tin vào một Thiên Chúa và thờ phụng
Thiên Chúa, phải được dẫn tới Thiên Chúa bằng tàn bạo, giết chóc.
Các nhà bảo vệ tín lý phi lý luận, đổ hết mọi sự lên đầu con người
một cách rất thuận tiện để bảo vệ thanh danh toàn năng, nhân từ của
Thiên Chúa, trong khi cái nhân xấu, ác không nằm trong con người. Trên thế
giới có biết bao nhiêu người lành hiền, suốt đời không làm một việc
gì ác, tại sao lại phải gánh cái tội mà bản chất không phải là một
tội ác của một ông tổ Do Thái là Adam?
Thiên Chúa dùng các ông vua Ai Cập
hành hạ dân Do Thái để giáo dục dân Do Thái như thế nào? Tại sao lại
phải giáo dục dân Chúa. Tôi thật không thể tưởng là trong thời buổi
này lại có người nhắc lại y chang những lời giảng Thánh Kinh quá ấu
trĩ của các ông thày tu. Vua Ai Cập Pharaoh hành hạ dân Do Thái và ra lệnh
ném xuống sông tất cả những đứa bé trai sơ sinh để giáo dục dân Do
Thái? Kiểu giáo dục gì mà man rợ đến như vậy. Hỏi thật ông Tri nghe ,
ông có tán thành kiểu giáo dục này hay không? Và ông có muốn cho dân Việt
Nam trở thành dân Chúa để được Thiên Chúa giáo dục theo kiểu này
không? Cũng may cho dân Việt Nam không phải là dân Chúa, và dân Việt Nam quả
là thông minh vì tuyệt đại đa số đã chê Chúa. Chính Martin Luther cũng phải
nói rằng: "Dưới quyền lực của các Giáo Hoàng chúng ta khốn nạn,
nhưng dưới quyền lực của Phúc Âm chúng ta còn khốn nạn gấp 7 lần".
Nhưng không phải là chỉ có vua Ai
Cập mới hành hạ dân Do Thái mà chính Thiên Chúa đã ra tay hoặc sai người
giết dân Do Thái, dân cưng nhất của Ngài. Muốn biết Thiên Chúa ra tay ác
độc như thế nào tôi xin mời độc giả hãy lấy cuốn Cựu Ước ra đọc,
đặc biệt là đọc kỹ những quyển Exodus (Xuất Hành), Dân Số (Numbers),
và Phục Truyền (Deuteronomy). Ở đây tôi chỉ trích dẫn vài đoạn nhỏ
trong Thánh Kinh:
Exodus 32: 23-29: Khi Mai-sen thấy dân
chúng phóng đãng, liền ra đứng ở cửa trại kêu gọi: "Ai thuộc về
Thiên Chúa, đến đây với ta". Tất cả người Lê-Vi đều tập họp bên
ông. Ông nói với họ: "Thiên Chúa, Thần của Israel bảo: Mỗi người
phải đeo kiếm vào, đi từ cửa trại này đến cửa trại kia và giết cả
cho đến anh em ruột, người thân thích, láng giềng. Người Lê-vi vâng lời
và hôm ấy có chừng 3000 người bị giết. Mai-sen bảo người Lê-vi:
"Hôm nay anh em đã hiến thân phục vụ Thiên Chúa, chẳng sá chi đến cả
con cái, anh em ruột mình, vậy Chúa sẽ giáng phúc cho anh em."
(Now when Moses saw that the people were
unrestrained, then Moses stood in the entrance of the camp, and said: "Whoever is on
the Lord's side, let him come to m." And all the sons of Levi gathered themselves
together to him. And he said to them: "Thus says the Lord God of Israel:"Let
every man put his sword on his side, and go in and out from entrance to entrance
throughout the camp, and let every man kill his brother, every man his companion, every
man his neighbor." So the sons of Levi did according to the word of Moses. And about
thrê thousand men fell that day. Then Moses said: "Consecrate yourselves today to
the Lord, thaT HE may bestow on you a blessing this day, for every man has opposed his
son, and his brother.)
Quý độc giả có biết tại sao
Thiên Chúa nổi trận lôi đình, định chính mình ra tay giết sach đám người
này (Now, let Me alone, that My wrath burn hot against them and I may consume them), sau
vì Moses can để bảo vệ "thanh danh" của TChúa nên TChúa mới nhường
cho Moses công tác đặc biệt này? Chỉ vì dân Do Thái ở đây thờ một con
bò nhỏ bằng vàng và tin rằng chính con bò đó là Thần đã dẫn dân Do
Thái ra khỏi xứ Ai Cập. Thiên Chúa toàn năng và nhân từ, hay thiệt là
hay. Cám ơn ông Tri đã nhắc nhở cho dân ngoại đạo chúng tôi lòng nhân từ
của Thiên Chúa. Nhưng tôi có một thắc mắc nhỏ, tại sao ông chưa đọc
kỹ Thánh Kinh mà lại cứ thích diễn giải Thánh Kinh? Chúng ta hãy đọc thêm
một đoạn trong Thánh Kinh.
Numbers 25: 1-9: Khi dân Israel đồn
trú tại Acacia, một số thanh niên bắt đầu "thân thiện" với những
thiếu nữ Moab ở địa phương. Các thiếu nữ này mời họ dự những cuộc
lễ tế Thần của họ, dần dà họ không những chỉ dự các buổi tiệc
mà còn thờ lạy các Thần đó nữa. Không bao lâu dân Israel đều thờ
Baal, Thần của dân Moab. và Thiên Chúa nổi giận dữ dội đối với chính
dân của mình. Thiên Chúa ra lệnh cho Moses: "Hãy bắt các trưởng tộc,
treo cổ họ giữa ban ngày trước mặt Chúa, Chúa sẽ hết giận dân Israel.
Moses ra lệnh cho các ông chánh án hành quyết tất cả những người nào thờ
lạy Baal....Rồi tai họa đó chấm dứt, nhưng chỉ chấm dứt sau khi đã
có 24000 người bị giết.
(While Israel was camped at Acacia, some
of the young men began going to wild parties with the local Moabite girls. These girls
also invited them to attend the sacrifices to their gods and soon the men were not only
attenfing the feasts, but also bowing down and worshiping the idols. Before long all
Israel was joining freely in the worship of Baal, the god of Moab, and the anger of the
Lord was hot against his people. He issued the following command to Moses: "Execute
all the tribal leaders of Israel. Hang them up before the Lord in broad daylight, so that
his fierce anger will turn away from the people." So Moses ordered the judges to
execute all who had worshiped Baal....So the plague was stopped, but only after 24000
people had already died.)
Một lần nữa, lại xin cám ơn ông
Tri đã cho chúng tôi biết phương pháp giáo dục đặc biệt của Thiên
Chúa đối với dân Do Thái. Nhưng tại sao Thiên Chúa lại muốn giáo dục
dân Do Thái một cách "nhân từ" như vậy? Vì Thiên Chúa có máu Hoạn
Thư, nhưng xét ra Hoạn Thư còn nhân từ hơn Thiên Chúa nhiều, chỉ hành hạ
nàng Kiều sơ sơ rồi làm lơ cho nàng "cao chạy xa bay", còn Thiên
Chúa thì quá nhân từ, chỉ giết sơ sơ lúc thì 3000 người, lúc thì 24000
người thôi.
Suy rộng ra thời cận đại, theo
quan điểm của ông ĐMT, chúng ta có thể cho rằng dân Do Thái không hiểu rằng
Thiên Chúa đã dùng Hitler giết 6 triệu người Do Thái làm phương tiện giáo
dục dân Do Thái. Suốt 2 ngàn năm lịch sử, Giáo hội Ca Tô vu cho dân Do
Thái cái tội giết Chúa con, hành hạ dân Do Thái đủ điều, dạy con chiên
thù ghét dân Do Thái, vì thế mới có cái lối giải thích Thánh Kinh lạ đời
là dùng Vua Ai Cập để giáo dục dân Do Thái. Hitler đã từng nói về
chính sách của Đức Quốc Xã đối với dân Do Thái: "Chúng tôi chẳng
qua chỉ thực hiện những điều giáo hội CaTô muốn thực hiện trong 2000
năm nay mà không thực hiện nổi". Hitler cũng là một tín đồ CaTô
và chủ trương của Hitler rất phù hợp với đường lối của Giáo hội
CaTô Giáo Rô Ma. Chẳng vậy mà khi Hitler xâm chiếm nước Áo, Hồng Y
Inmitzer ở Vienna ra lệnh cho tất cả các nhà thờ đánh chuông để ăn mừng.
Ông khuyến cáo mọi tín đồ phải tuân phục Hitler vì sự tranh đấu của
Hitler phù hợp với tiếng nói của Thiên Chúa (When Hitler invaded Vienna,
Cardinal Inmitzer ordered the bells of all his churches to be rung in celebration. He
recommended all Catholics to submit to Hitler , "whose struggles correspond to the
voice of God"). Những tiếng chuông nhà thờ này được ông Tri mô tả như
sau trong cuốn sách của ông, trang 204:
"Tiếng chuông nhà thờ bạn
nghe đầy lạc quan vui vẻ như báo hiệu Đức KiTô đã sống lại, cùng dẫn
bạn tới một tượng KiTô đội mão gai bị đóng đinh trên thập
giá."
9.Ông Đỗ Mạnh Tri chê
Bertrand Russell không hiểu Thánh Kinh:
Để kết thúc, ta hãy đọc một câu
chuyện vui cũng Russell kể từ Phúc Âm:
"Ngài (Giêsu) đói bụng và thấy
ở đằng xa một cây sung xanh lá. Ngài sung sướng đi đến với hi vọng có
vài trái sung để ăn. Nhưng khi đến gần thì chỉ thấy có lá vì chưa đến
mùa sung mọc trái. Và Giêsu nổi giận nói với cây sung: "Sẽ không bao
giờ có người nào ăn trái của ngươi nữa"...và thánh Peter nói với
Ngài: "Thầy ơi hãy nhìn cây sung bị Thầy NGUYN RỦA đang tàn héo...
Câu chuyện này thật lạ lùng vì không ai nỡ đi trách một cây sung chưa
đến mùa nên không mọc trái. Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lãnh vực
khôn ngoan và đạo đức, Chúa KiTô không thể đứng ngang hàng với những
vĩ nhân khác của lịch sử. Tôi cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Socrate đứng
cao hơn Ngài trong hai lãnh vực này".
Chuyện lạ lùng là một đầu óc lỗi
lạc như Russell có thể hiểu đức tin KiTô giáo và đọc Phúc Âm như thế.
Dụ ngôn cây nho, cây sung hay cây vả được dùng nhiều trong Kinh Thánh.
-Luca 13,6-9: NGÀI NÓI VÍ Dụ NÀY:
"Người kia có cây vả trồng trong vườn nho....."
-Matthêu 21, 18-21: Sáng sớm, khi trở
vào thành, Ngài cảm thấy đói.Trông thấy cây vả bên đường. Người lại
gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói:
"Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!" Cây vả chết khô ngay lập
tức. Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: "Sao cây vả lại chết
ngay lập tức như thế?" Đức Giêsu trả lời: "Thầy bảo thật
anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được
điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời
chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế."
Chẳng cần phải là nhà Kinh Thánh
học ta cũng biết rằng đây là một lối giảng dạy bằng dụ ngôn, bằng
tác động. (...) Đọc dụ ngôn mà không biết uyển chuyển đôi chút, thật
sự đáng tiếc nơi một con người đặt nặng vấn đề ngôn ngữ như B.
Russell.
Lời bàn của TCN:
Ông Đỗ Mạnh Tri mà chê Bertrand
Russel không hiểu đức tin KiTô và Phúc Âm thì thật quả là bạo phổi,
coi trời băng vung. Bằng vào đoạn trên tôi có thể tin chắc ba điều:
1. Ông Đỗ Mạnh Tri
chưa đọc kỹ cuốn "Why I Am Not A Christian" (Tại sao tôi không phải
là một tín đồ KiTô) của Bertrand Russell.
2. Ông Đỗ Mạnh Tri
cũng chưa đọc kỹ Thánh Kinh.
3. Và vì vậy, ông Đỗ
Mạnh Tri không làm gì khác hơn là nhắc lại một cách giải thích Thánh
Kinh chỉ có giá trị đối với những giáo dân kém hiểu biết.
Chứng minh?
Trong cuốn "Why I Am Not A
Christian", câu chuyện về cây sung mà Bertrand Russell kể nằm ở cuối
chương "The Moral Problem" (Vấn đề đạo đức). Trong chương này
Bertrand Russell phê bình tư cách và đạo đức của Chúa Ki Tô (Giêsu) qua
nhiều đoạn trích dẫn từ Thánh Kinh. Tôi sẽ trích dẫn phần này trong một
đoạn sau. Cộng với câu chuyện cây sung, ông đã phê bình trí tuệ và đạo
đức của Giêsu là thấp kém so với trí tuệ và đạo đức của Socrates và
Đức Phật. Ngoài ra, Bertrand Russell cũng còn hiểu rõ thế nào là đức tin
KiTô như ông đã viết rất chính xác trong chương đầu tiên: "What is a
Christian" (Người theo đạo KiTô là gì?)
Thứ đến, câu chuyện cây sung
trong Thánh Kinh có phải là dụ ngôn hay không? Câu chuyện đó do Giêsu kể
để làm một dụ ngôn hay là do Matthew kể về những hoạt động của Giêsu.
Điều rõ ràng là do Matthew kể về những hoạt động của Giêsu. Vì câu
chuyện đó có đầu có đuôi hẳn hoi chứ không phải tự nhiên rơi ở đâu
xuống.
Matthew 21 bắt đầu kể:
"Thế rồi, khi Giêsu và các
môn đồ tới Jerusalem, và tới làng Bethphage ở gần núi Olives, Giêsu sai
hai môn đồ đi trước vào làng.....
Và khi Giêsu tiến vào Jerusalem, cả
thành náo động hỏi "Ai zậỷ"....
Giêsu đi thẳng vào đền thờ, đuổi
hết những người mua bán ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền,
và ghế của những kẻ bán chim bồ câu....
Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi
Jerusalem, về trọ tại làng Bethphage đêm ấy.
Và chuyện cây sung bắt đầu: Sáng
hôm sau, trên đường trở vào thành phố, Ngài thấy đói bụng....(Now,
you know the rest of the story)
Vậy câu chuyện cây sung là một dụ
ngôn hay chỉ là một trong những hoạt động của Giêsu được Matthew kể
lại trong một câu chuyện có trước có sau? Câu chuyện này, cũng như nhiều
chuyện khác, chẳng qua chỉ mang cái khả năng làm phép lạ của Giêsu, chẳng
biết có thật hay không, để hù dọa dân chúng ngu dốt: "Này, đừng có
làm phật ý Giêsu, hãy coi cái gương cây sung thì biết." Nhưng những
chuyện trên cũng chứng tỏ một điều: Giêsu không có duyên học Thiền của
nhà Phật nên rất ư là dễ nổi nóng (hot tempered). Đuổi những kẻ mua bán
ra khỏi đền thờ là đủ rồi đâu cần phải vùng vằng lật đổ bàn ghế
như trong các show trên TV? Đọc trong Thánh Kinh chúng ta thấy Giêsu rất dễ
nổi quạu và dùng những lời lẽ còn tệ hơn lời lẽ của nhà "giết
Việt Nam Chính Sứ" đối với những người không theo mình.
Một dụ ngôn thường là một câu
chuyện về những nhân vật không dính dáng gì tới người đang kể chuyện
hay những người đang nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý. Cái dụ
ngôn của ông Tri về chuyện cây sung dạy về cái gì vậy? Dạy ai có lòng
tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể nguyền
rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra còn có khả năng
bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển.
Chỉ có điều, trong 2000 năm nay,
người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó tất nhiên có ông Đỗ Mạnh Tri,
nhưng chưa thấy ai làm được chuyện này. TCN không tin ở Giêsu nhưng có
thể làm được một chuyện: xin ông bạn vàng Mỹ ít thuốc khai quang Agent
Orange rắc lên cây, cây cũng chết héo queo. Làm được nhưng vì hành động
này vô đạo (Phật) nên TCN không làm.
10.Ông Đỗ Mạnh Tri mô tả
hình ảnh Giêsu:
"Tin hay không tùy ý. Nhưng không
thể không công nhận hình ảnh Giêsu trong Tân Ước là hình ảnh Đấng đến
để phá tan sợ sệt, chiến thắng ác, khổ, chết; hình ảnh một Đấng Cứu
Thế đã xuống tận đáy địa ngục để xóa bỏ địa ngục để giải
thoát từng mỗi con người, mời gọi từng người tiến tới một cuộc sống
trưởng thành và viên mãn."
Lời bàn của TCN:
Ở trang 178, ông Đỗ Mạnh Tri hiểu
hỏa ngục là sự khai trừ giữa người và người chứ ông không tin là hỏa
ngục có thật. Hãy khoan bàn đến cái hiểu của ông ĐMT, ở đây trước
hết tôi muốn trích dẫn đoạn đầu của chương "Vấn Đề Đạo Đức"
trong cuốn "Why I Am Not A Christian" của Bertrand Russell, để vừa
"bàn" về câu trên của ông Đỗ Mạnh Tri vừa bổ túc cho cái chuyện
cây sung trong phần trên:
Vấn đề đạo đức
"Bây giờ hãy bàn về vấn
đề đạo đức. Tôi nghĩ Chúa KiTô có một khuyết điểm đạo đức rất
trầm trọng, đó là Ngài tin vào địa ngục. Tôi nghĩ không một người nào
thật sự có lòng nhân ái bao la lại tin vào sự trừng phạt vĩnh viễn.
Theo Phúc Âm, Chúa KiTô chắc chắn là một người tin vào sự trừng phạt
vĩnh viễn. Sách Phúc Âm cho thấy nhiều lần - sự thù oán một cách thịnh
nộ của Chúa đối với những người không nghe theo lời dạy của Ngài -
một thái độ thường thấy ở những người đi truyền đạo; nhưng điều
này làm tổn thương đến giáo lý thượng đẳng của Ngài. Người ta không
thấy thái độ này nơi Socrates chẳng hạn. Đối với những người không
tin theo mình ông vẫn dịu dàng lịch sự, điều này, theo ý tôi, đúng với
tư cách của một nhà hiền triết nhiều hơn là tỏ thái độ bực bội.
Quý vị có lẽ cũng nhớ những gì Socrates nói trước khi qua đời và những
gì ông thường nói với những người không đồng ý với ông.
Trong sách Phúc Âm, Chúa KiTô nói:
"Ngươi là rắn, do rắn độc sinh ra, người không thể thoát bị đày
xuống hỏa ngục" với những người không thích lời giảng của Ngài.
Thật là những lời không đẹp đẽ gì. Và còn rất nhiều điều tương tự
về hỏa ngục nữa. Dĩ nhiên, như khi nói về tội chống Thánh Linh: "Kẻ
nào nói điều chống lại Thánh Linh thì sẽ không được tha thứ trong cõi
đời này và cả cõi đời sau". Câu nói đã tạo ra bao nhiêu là đau khổ
trên thế gian... Tôi thật sự không tin rằng một người có lòng nhân ái
tràn đầy mà lại đi GIEO RẮC Sợ HÃI VÀ KHIẾP ĐẢM như vậy trên khắp
thế giới.
Chúa KiTô cũng nói: "Con của
Chúa Trời sẽ gọi các thiên thần để lùa ra khỏi nước Trời tất cả
những kẻ phạm tội, những kẻ vô đạo lý và quăng họ vào lò lửa; những
kẻ này sẽ than khóc và nghiến răng"; và Chúa KiTô tiếp tục nói
thêm về những nghiến răng và than khóc. Điều này được kể đi kể lại
nhiều lần đến nỗi người đọc phải nghĩ rằng chắc có một sự
thích thú nào đó khi nói về than khóc và nghiến răng trong sách Phúc Âm,
chứ không thì sao cứ nói mãi như vậy. Và quý vị hẳn cũng nhớ chuyện
con cừu và con dê: Khi ngày tận thế đến, Chúa KiTô sẽ chia cừu
và dê ra hai bên và ngài sẽ nói với những con dê: "Hãy rời khỏi ta,
hỡi bọn bị nguyền rủa kia, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng". Ngài
tiếp tục: "Và những con vật này sẽ đi vào ngọn lửa vĩnh hằng."
Rồi ngài còn nói: "Nếu bàn tay ngươi phạm tội thì hãy chặt nó đi;
thà ngươi sống tàn tật còn hơn là mang đủ hai tay vào hỏa ngục, vào ngọn
lửa không bao giờ tắt, vào nơi sâu bọ không chết và lửa cháy không bao
giờ tắt." Chúa KiTô lập đi lập lại mãi điều này. Tôi phải nói rằng
tất cả giáo điều này, giáo điều rằng tội lỗi sẽ bị trừng phạt bởi
hỏa ngục, là một giáo điều tàn nhẫn. Đây là một giáo điều đem sự
tàn nhẫn vào đời và đem cho đời bao nhiêu thế hệ bị hành hạ tàn bạo,
và Chúa KiTô, theo những gì ta phải tin vào sách Phúc Âm, phải chịu trách
nhiệm một phần của sự tàn nhẫn này.
Còn những chuyện ít quan trọng
khác, chẳng hạn như chuyện con heo Gadarene. Thật là thiếu lòng bác ái khi
đặt ma quỷ vào trong bầy heo và bắt cả bầy ở trên dốc núi nhảy xuống
biển chết chìm. Hãy nhớ Chúa KiTô là đấng toàn năng, thay vì đuổi ma
quỷ đi một cách giản dị thì Ngài lại đặt chúng vào trong những con
heo rồi nhận chìm cả đàn.
Xong còn chuyện lạ lùng về cây
sung mà tôi luôn luôn thắc mắc...."
Đến đây quý độc giả chắc đã
hiểu tại sao Bertrand Russell lại phê phán về trí tuệ và đạo đức của
Chúa KiTô như trên, và chắc quý độc giả cũng nhận ra rằng người không
hiểu Thánh Kinh không phải là Bertrand Russell, mà chính là ông Đỗ Mạnh
Tri. Và có độc giả nào, trừ ông ĐMT, hiểu hỏa ngục là sự khai trừ
giữa con người và con người.
Trong cuốn "Catholic Word
Book", (Sđd), có giải thích thế nào là hỏa ngục:
"Hỏa ngục (hay địa ngục): Trạng
thái hình phạt những người bị Chúa đầy - nghĩa là, những người chết
trong tội lỗi, trong trạng thái tự xa lìa Thần và chống lại kế hoạch
cứu rỗi của Thần. Hình phạt hỏa ngục bắt đầu ngay sau khi chết và
không bao giờ chấm dứt."
(Hell: The state of punishment of the
damned - i.e., those who die in mortal sin, in a condition of self-alienation fron God and
of opposition to the di_
vine plan of salvation. The punishment of
hell begins immediately after death and lasts forever.)
Ông Đỗ Mạnh Tri nên viết thơ về
Tòa Thánh Vatican yêu cầu Tòa Thánh phải sửa lại định nghĩa của địa
ngục là sự khai trừ giữa người với người theo như ông hiểu.
Một mặt khác, bằng vào những đoạn
mà Bertrand Russell trích dẫn lời Chúa trong Thánh Kinh, và đây mới chỉ là
một phần ở trong Thánh Kinh, chúng ta thử để tâm suy nghĩ xem hình ảnh của
Chúa KiTô có phải là hình ảnh của một Đấng đến để "Phá tan sợ
sệt, chiến thắng ác, và xóa bỏ địa ngục" như ông Đỗ Mạnh Tri
đã ca tụng ở trên hay không. Và con người sống trưởng thành viên mãn
như thế nào? Chỉ cần tin vào Giêsu?
Trên đây tôi đã bàn về một số
ý kiến của ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn "Ngón Tay Và Mặt Trăng".
Thực ra tôi có thể bàn về rất nhiều điểm trong cuốn sách của ông Đỗ
Mạnh Tri một cách tương tự, nhưng tôi cho như vậy kể cũng tạm đủ để
soi sáng vài sự thật. Bài viết này không ngoài mục đích trình bày một
sự hiểu cá nhân, dĩ nhiên là giới hạn và thiếu sót, về những vấn đề
ông Đỗ Mạnh Tri viết trong cuốn sách của ông, để cho độc giả tự mình
suy nghĩ và cân nhắc từng vấn đề một..
Những gì mà quần chúng được dạy
để tin mà không cần đến lý lẽ,
vậy thì ai có thể phủ bác niềm
tin này bằng lý lẽ?
(What the populace learned to believe
without reasons, who could refute it then by means of reasons?) - Friedrich Nietzche
Nhiều trí thức CaTô Giáo LaMã đã
đưa ra một luận cứ như sau: "Nếu đạo CaTô không tốt đẹp, không
có chiều kích tâm linh v..v.., thì làm sao nó có thể phát triển trên khắp
thế giới và tồn tại cho đến ngày nay với hàng tỷ tín đồ trong đó
có biết bao nhiêu là người trí thức mà đầu óc không thua kém bất cứ
ai."
Chúng ta hãy bỏ qua cái lịch sử
đen tối của CaTô Giáo LaMã với những cuộc Thánh Chiến, với những Tòa
Án xử Dị Giáo, với những chính sách thực dân, đế quốc nhằm tiêu diệt
các nền văn hóa khác trên hoàn cầu, mà chỉ tìm hiểu tại sao tôn giáo
đó tồn tại cho tới ngày nay.
Nhiều học giả đã nghiên cứu về
vấn đề này, và sau khi xét đến mọi khía cạnh, từ bản chất đến lịch
sử phát triển của CaTô Giáo RôMa, nhiều người đã đồng ý ở một điểm:
"Trong CaTô Giáo RôMa chỉ có một phép lạ, đó là, với một lịch
sử như vậy mà nó có thể tồn tại tới bây giờ." Và các học
giả đó đã để tâm nghiên cứu về cái "phép lạ" tồn tại của
CaTô Giáo RôMa cũng như của các tôn giáo độc Thần khác, thấy rằng cái
phép lạ này sự thực không phải là phép lạ, mà có nhiều nguyên nhân.
Những học giả này , trong đó có cả một số chức sắc trong CaTô Giáo
RôMa, đã nghiên cứu rất kỹ về vấn đề này. Trong số này chúng ta thấy
những tên quen thuộc như David Hume (thế kỷ 18), Ludwig Feuerbach (thế kỷ
19) và rất nhiều tác giả trong thế kỷ 20, cho tới ngay cả vài năm gần
đây. Nguyên nhân tồn tại của các tôn giáo độc Thần thì có nhiều, sau
đây tôi chỉ liệt kê 5 nguyên nhân chính mà không bàn sâu về những
nguyên nhân này: Nhưng những nguyên nhân này chứng tỏ sự tồn tại của
một tôn giáo độc Thần không có nghĩa là tôn giáo đó tốt đẹp gì, mà
chỉ là cái hậu quả tất nhiên của những chính sách nhồi sọ, uốn nắn
đầu óc con người, ngoài sự thừa hưởng truyền thống gia đình và xã hội.
1. Truyền thống gia
đình: Nhận xét sau đây của nhà Thần học Do Thái Franz Rosensweig có thể
áp dụng cho các tín đồ CaTô Giáo RôMa nói riêng, KiTô giáo nói chung:
"Niềm tin của một người
Do Thái không phải là nội dung của một sự thực chứng, mà là sản phẩm
của sự sinh sản. Người Do Thái, sinh ra bởi một người Do Thái, nhận thực
niềm tin của mình bằng cách tiếp tục sinh ra người Do Thái. Niềm tin của
hắn không phải là "tin vào" một cái gì: hắn chính là niềm
tin"
(The belief of a Jew is not the content of
a testimony, but rather the product of reproduction. The Jew, engendered by a Jew, attests
his belief by continuing to procreate the Jewish peoplẹ His belief is not in something:
he is himself the belief.)
Hiện nay, ở nước Do Thái, không
có tự do tín ngưỡng. Mọi quyền đều nằm trong tay những ông Thày tu
Chính Thống (Orthodox Rabbis): người dân sống ra sao, tin cái gì, cưới hỏi
ra sao, và chết như thế nào, chôn ở đâu v..v.. tất cả đều thuộc quyền
quyết định của những ông Ra-Bi. Thí dụ, một đứa trẻ sinh ra chỉ được
công nhận là người Do Thái nếu mẹ là Do Thái. Những cuộc hôn phối giữa
người Do Thái và người khác giống hay khác đạo đều không có giá trị
và chính quyền không làm phép cưới. Những người này, khi chết không
được chôn trong nghĩa địa Do Thái. Điều này áp dụng cho cả những người
Do Thái (Jews) di cư từ nước Nga sang. Đó là một vài luật của "Dân
Chúa" sau khi đã được các ông Vua Ai Cập "giáo dục" theo ý của
Thần.
Những luật trên đại cương cũng
là luật của CaTô Giáo LaMã cách đây mới vài chục năm. Nhưng ngày nay những
luật này đã được nới lỏng (relax) để thu hút tín đồ và để khỏi
bị tàn lụi. Tuy Tòa Thánh đã chính thức bỏ điều luật những người
ngoại đạo phải theo đạo trong việc hôn phối, nhưng tôi vẫn chưa thấy
một tuyên cáo chính thức nào của Giáo hội CaTô Việt Nam về vấn đề này.
Và trong hầu hết các trường hợp vẫn còn sự ép buộc tối đa, chỉ
nhượng bộ khi nào không thể ép buộc được với những người cứng đầu
và với những con chiên hiểu biết. Than ôi! Thời đại sắp sửa khai hóa.
(Không phải của Phan Bội Châu).
2. Được uốn nắn
trí thức từ nhỏ: Sinh ra từ một gia đình CaTô, được uốn nắn từ nhỏ,
ngay cả trước khi trí óc đứa trẻ phát triển và mở mang, lớn lên đứa
trẻ làm sao có thể nghĩ khác được những điều đã nhồi vào óc chúng
từ nhỏ. Các bậc cha mẹ cho đó là bổn phận mà không nghĩ rằng đó là
một cách nhồi sọ, nhiều khi làm hại đến đầu óc của đứa trẻ hơn
là giúp cho chúng phát triển để đương đầu với những sự thực ở ngoài
đời. Tuy chịu ảnh hưởng gia đình từ nhỏ, nhưng nền giáo dục gia đình
này không đủ để thuyết phục đứa trẻ tiêu hóa được những mê tín
và huyền thoại hoang đường của tôn giáo. Cho nên đứa trẻ thường bị
nhồi sọ, cho vào khuôn phép tôn giáo, ngay cả trước khi trí óc nó mở
mang đến trình độ phán đoán, ở trong nhà thờ. Tín điều "không
đi xem lễ hàng tuần là bị đày địa ngục" trước đây cũng không
ngoài mục đích nhồi sọ này. Thật là dễ hiểu khi ta thấy ở các nước
Âu Mỹ ngày nay số người bỏ đạo, hay ít ra là không tin vào những điều
huyền hoặc trong Thánh Kinh, gia tăng vì số người đi lễ nhà thờ càng
ngày càng giảm.
Linh Mục James Kavanaugh cũng đã
đưa ra một nhận xét rất chính xác về sự thực của việc đi xem lễ nhà
thờ trong một đoạn như sau (sđd. trg.32):
"Tôi quan sát người CaTô đến
xem Lễ và lấy làm thương hại hắn vì một sự đào tạo đã làm vặn vẹo
đầu óc và méo mó cái ý niệm về tôn giáo của hắn. Hắn đến xem lễ
là vì những người lãnh đạo tôn giáo đã bảo hắn phải đến, những
người này chính họ cũng ngoan ngoãn và không có tinh thần như hắn. Hắn
sống trong thời đại của máy bay phản lực và bom nguyên tử, và cầu
nguyện trong thế giới ảo thuật Trung cổ. Hắn thấy chán trước sự hiện
diện của Thiên Chúa của hắn. Nhưng hắn vẫn tới, vì hắn đã được dạy
từ nhỏ: địa ngục là nhà của những kẻ không tới xem lễ. Hắn quá sợ
hãi để thú nhận rằng hắn chán.. Trong tôn giáo hắn là một người máy
nhắc lại những câu trả lời mà hắn đã học. Hắn chưa bao giờ thực sự
biết tới cái lạc thú của tìm tòi, sự kỳ diệu của khám phá, cái tự
do rung động của những quyết định cá nhân. Hắn đã được dạy phải
đọc cái gì, phải nghĩ như thế nào, và phải coi ai là bạn.
Giáo hội, giống như bậc cha mẹ
giận dữ và lo sợ, vơ vào phần mình công trạng giúp đõ con người.
Kết quả là những tín đồ CaTô bị đối xử như là những đứa trẻ và
chúng tiếp tục tin như là những đứa trẻ".
(I watch the Catholic come to Mass and
pity the formation that warped his mind and distorted his religious sense. He comes
because he has been told to come by religious leaders who are as docile and listless as
he...He lives in a world of jets and atomic bombs, and prays in a world of medieval magic.
He is bored in the presence of his God. And yet he comes, because he has learned from his
youth that hell is the home of those who miss Mass. He is too frightened to admid he is
bored...In religion he is a robot who can only recite the answers he has learned..He has
never really known the joy of search, the wonder of discovery, the exciting freedom of
personal decision..He has been taught what to read, how to think, and whom to call his
friend...
The Church, like a frightened and angry
parent, takes much too credit for the help that it can offer man. Consequently Catholics
are treated as children and they continue to believe as such..)
Và theo Joseph D. Daleiden, một học
giả CaTô, trong cuốn "The Final Superstition", trg. 408, thì:
"Triết gia Denis Diderot (thế kỷ
18) có kể chuyện sau đây về một lãnh tụ thổ dân ở Hoa Kỳ, sau khi
nghe nhà truyền giáo kể những chuyện kỳ lạ trong KiTô Giáo, trả lời như
sau:
"Người anh em, hãy nhìn lên đầu
tóc bạc phơ của tôi; ông thực tình nghĩ rằng có thể làm cho một người
ở tuổi tôi tin vào những chuyện đó sao? Nhưng tôi có 3 đứa con. Đừng
có nói với đứa lớn nhất, nó sẽ cười cho. Hãy tới đứa nhỏ nhất,
ông có thể làm cho nó tin bất cứ cái gì mà ông muốn.""
(Brother, look at my head, my hair is
quite gray; seriously, do you think you can make a man of my age believe all these
stories? But I have three children. Don't address yourself to the oldest, you will make
him laugh. Get hold of the little one, you can persuade him of anything you like.)
Và Schopenhauer đã nhận xét rằng:
"Các linh mục đã dạy những
tín điều siêu hình cho con người từ lúc còn nhỏ, trước khi khả năng
phán đoán phát triển, kết quả là những tín điều đã in vào đầu óc
đứa trẻ, bất kể là vô nghĩa tới chừng nào, sẽ nằm trong đó suốt
đời."
(Priests must impart their metaphysical
dogmas to man at a very early age, before judgment has awakened, thus in early childhood,
for then every well impressed dogma, however senseless it may be, remains forever.)
Và Charles Darwin cũng đã viết như
sau:
"Sự thường xuyên in vào trí
não các trẻ thơ về một niềm tin nơi Thần (God) tạo nên một ảnh hưởng
mạnh mẽ đến độ đối với chúng vứt bỏ niềm tin này cũng khó như là
một con khỉ vứt bỏ cái bản năng sợ hãi và thù ghét một con rắn."
(..the constant inculcation in a belief in
God on the minds of children produces so strong an effect..that it would be as difficult
for them to throw off their belief in God as a monkey to throw off its instinctive fear
and hatred of a snake.)
(Nếu cho rằng khỉ là tổ của
loài người theo thuyết tiến hóa là không hiểu gì về thuyết tiến hóa.
Khỉ chỉ là một giai đoạn tiến hóa của các sinh tế bào (bio-cells) trong
một quá trình tiến hóa kéo dài nhiều tỷ năm. TCN)
3. Con người thường
có tinh thần trốn tránh trách nhiệm:
Những tôn giáo độc Thần Tây phương
khai thác triệt để sự yếu kém của con người, reo rắc mặc cảm tội lỗi
vào đầu óc con người. Do đó niềm tin vào Thần thường được các tín
đồ dùng để trốn mọi trách nhiệm, và quy cho mọi sự là do ý muốn của
Thần. Trước những bất hạnh xảy ra cho mình, nhiều khi do chính sự lầm
lỗi của mình gây ra, một tín đồ KiTô Giáo thường cho đó là ý muốn của
Thần và thường được các vị lãnh đạo tôn giáo dạy rằng đó là sự
thử thách của Thần để nuôi dưỡng niềm tin nơi tín đồ. Cũng vì vậy
mới có luận điệu là các ông Vua Ai Cập hành hạ dân Do Thái là do ý của
Thần muốn giáo dục dân Do Thái. Ngay cả khi John Paul II bị ám sát cũng có
người tin rằng đó là sự thử thách của Thần để JPII giữ vững niềm
tin. Các nhà truyền giáo truyền đạo nơi đám dân ngu dốt ít học cũng
reo rắc vào đầu óc của họ là nghèo khổ là do ý Thần và đó là con
đường chắc chắn nhất để lên Thiên đàng. Bài giảng "phúc thật
(hay giả) 8 mối" trong Tân Ước cũng cùng một lập luận như vậy.
Thay vì cố gắng để cải tiến hay để sửa đổi lại những lỗi lầm
hay những hoàn cảnh khó khăn, các tín đồ CaTô thường tìm con đường trốn
tránh trách nhiệm bằng cách chấp nhận mọi sự là do ý của Thần.
Cũng vì khai thác được cái tinh thần
trốn tránh trách nhiệm này mà các nhà lãnh đạo tôn giáo độc Thần mới
có thể ngự trị trên đám người thấp kém, những người tin rằng Cha
cũng như Chúa, và để mọi sự quyết định cho Cha, chỉ việc tuân theo lời
cha dạy là xong.
4. Con người sợ chết,
cần một sự an toàn và muốn trở thành bất tử.
Có thể nói con người thường sợ
chết, không ai muốn chết, và làm đủ mọi cách để kéo dài cuộc sống.
Những người cuồng tín, sẵn sàng "tử vì đạo" là những kẻ hi
vọng được một cái gì đó tốt đẹp hơn sau khi chết, thí dụ như một
danh hiệu "thánh tử đạo", hay một chỗ ở trên Thiên đàng v..v..
Các Thập Tự Quân trong các cuộc Thánh Chiến luôn luôn được Giáo Hoàng
hứa dành cho một chỗ trên Thiên đàng. Trước những bệnh tật, thiên
tai, bất trắc của cuộc sống, con người mơ ước một cái gì vĩnh cửu,
và không có gì hấp dẫn hơn là một Thiên đàng hứa hẹn bởi các chức
sắc KiTô giáo. Nhưng quan niệm sống đời đời ở trên Thiên đàng của
KiTô giáo không phù hợp với đầu óc các thổ dân ở Châu Mỹ và ở Á
Đông. Trong cuộc Thánh Chiến Albigense, được hỏi là làm sao phân biệt
được ai là tín đồ và ai theo tà đạo, đại diện của Giáo Hoàng đã
ra lệnh: "Giết hết đi ! Thần sẽ nhận biết ai là tín đồ của
Người." (Kill them all, God will recognize his own). Điều này ngụ ý
các tín đồ sẽ được Thần cho lên Thiên đàng sau khi bị giết chết.
5. Sách lược tuyên
truyền lừa dối và ngụy tạo lịch sử của Giáo hội.
Có thể nói, Giáo hội CaTô Giáo
RôMa và thuộc hạ ở các địa phương, nhất là ở các nước chậm tiến,
đã có những sách lược tuyên truyền tinh vi nhất để nắm giữ tín đồ
qua truyền thanh, báo chí, TV v..v.. để nhồi vào óc đám tín đồ những thông
tin sai với sự thực. Những sách lược này đã được nhiều học giả
nghiên cứu và phanh phui. Chúng ta hãy đọc 3 tài liệu sau đây:
Trong cuốn "Communism, Democracy
, and Catholic Power", Paul Blanshard dành nguyên một chương dài 31 trang,
từ trang 212 tới trang 242, để khai triển với nhiều tài liệu dẫn chứng
những điểm ông viết trong đoạn mở đầu sau đây về mánh lới bóp méo
sự thực của Vatican (The Management of Truth: The Vatican):
"Là một tổ chức tôn giáo
trong thế giới, Vatican đã thông thạo trong cách xào xáo bóp méo sự thực
bằng những phương cách lạ kỳ để đẩy mạnh những chương trình toàn
cầu của Giáo hội. Tòa Thánh đã thông thạo trong việc che dấu lịch sử,
khai thác sự ngu tối của con người, và ngụy trang những chính sách phi
dân chủ của mình.."
(As an institution in this world the
Vatican has learned to manipulate and manage the truth in strange ways in furthering its
worlđwide programs. It has learned to shade history, exploit human ignorance, and
disguise its undemocratic policies..)
Trong cuốn "Freedom's Foe - The
Vatican", Adrian Pigott cũng để ra nguyên một chương dài 13 trang, từ
trang 59 tới trang 72, để viết về kỹ thuật tuyên truyền của Giáo hội
CaTô RôMa (Roman Catholic Propaganda) và khai triển những điểm chính như tuyên
truyền cá nhân (Personal Propaganda), báo chí (The Press), văn chương, kịch nghệ
và phim ảnh (Literature, Stages and Films), tuyên truyền qua những trưng bày
công cộng (Propaganda by Public Exhibitions), xuyên tạc những biến cố chính
trị (Distortion of Political Events), tổ chức hoạt động CaTô (Catholic
Action), một tổ chức toàn cầu của Giáo hội mà thực chất là những đạo
quân số 5 trong những quốc gia để phục vụ cho Vatican (..this comprehensive
term , Catholic Action, in effects, amounts to the foundation inside many countries of a
sort of "fifth column" intriguing for the benefit of the Vatican.)
Và trong cuốn "Mythology's Last
Gods: Yahweh and Jesus", William Harwood đã viết như sau, trang 16:
"Người ta đã khám phá ra rằng,
từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện,
những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những
điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên
tri về tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn
sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này
được đưa đến với đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã
bị quật bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi.
Trước nguy cơ bị loại này, Giáo
Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông
ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục
và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin
rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng
phải xác nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một ảo tưởng sai
sự thực. Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài ngay lập tức
dẹp bỏ phúc trình này thì họ không còn là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo
Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp
luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương
pháp luận được tạo ra với mục đích chuyên biệt là phải đi đến kết
luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải là một tác phẩm
hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng
chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó
đã được biết là "Thần học"...
Đó là quyền lực của chính trị
Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên
cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho tới
ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô
Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả
phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm hoang đường."
(One by one the various books of the bible
were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations;
prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved
inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach
general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could
not have hoped to recover.
Facing elimination, the current Pope
appointed his own historians to examine the secular historians' conclusions and find the
flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal
historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the
Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be
Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology
to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of
reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how
severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That
methodology was 'theology'..
...Such was the power of the world's
theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles
refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of
unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of
the population of Chritian-dominated societies.)
Với những đầu óc bị nhồi sọ,
uốn nắn từ nhỏ, qua những sách lược tuyên truyền lừa dối, xuyên tạc
sự thực tinh vi nhất để nắm giữ tín đồ, các tín đồ khó có thể
thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của gia đình và giáo hội. Cái điều đáng
phàn nàn nhất trong KiTô Giáo là các bậc cha mẹ đã toa rập với giáo hội
để biến đầu óc con cái mình thành những đầu óc của những con cừu của
Panurge. Họ cho như thế là phải vì chính đầu óc họ cũng đã bị uốn nắn
như vậy từ nhỏ. Cho nên, với chính sách nhồi sọ và khai thác như trên,
chúng ta không lấy gì làm lạ khi thấy những bậc được gọi là trí thức
CaTô mà cũng không thoát ra khỏi được cái vòng chật hẹp của một tôn
giáo độc Thần, và niềm tin tôn giáo của họ cũng không hơn gì niềm tin
của những "dân ngu khu đen" (Từ của ông ĐMT).
KiTô giáo là đạo của Tây phương
cho nên người Tây phương luôn luôn có một mặc cảm yếu hèn trước một
ông Thiên Chúa toàn năng mà họ được nhồi vào óc từ nhỏ là sáng tạo
ra mọi vật trên thế gian và sẽ trừng phạt nặng nề những ai không tin
ở Thần. Vì vậy Tây phương có câu: "Mưu sự tại nhân, thành sự
tại Thiên (Chúa)" (L'homme propose, Dieu dispose), trong khi ở Đông phương
thì lại có câu: "Xưa nay nhân định thắng Thiên (Chúa) cũng nhiều".
Nếu chúng ta nghiên cứu và thực
hành giáo lý Phật đà thì chúng ta sẽ thấy rằng, để đối phó với những
yếu kém và khao khát như trên của con người, Phật Giáo có những phương
pháp nhân bản trái ngược hẳn với những phương pháp uốn nắn đầu óc
con người của KiTô giáo như vừa kể trên.
Trong Phật Giáo không có chuyện cha
mẹ hay Tăng Ni áp dụng chính sách nhồi sọ con cái, Phật tử từ khi còn
nhỏ. Nếu KiTô giáo dùng mọi cách, từ reo rắc sợ hãi đến hứa hẹn
Thiên đàng, để nắm giữ đầu óc con người, thì trong Phật Giáo, khả năng
của con người được đề cao tới mức tối đa. Phật giáo luôn luôn
khuyên con người phải cố gắng và tinh tiến trong mọi lãnh vực. Tinh tiến
là một độ Ba-La-Mật có thể dẫn con người đến giải thoát. Phật
giáo cũng khuyên người ta phải nhận lãnh trách nhiệm những việc mình
làm qua thuyết nhân quả: "Không một nơi nào trong vũ trụ này, dù
là trên trời, dưới biển v..v.. mà ta có thể trốn tránh được nghiệp
quả do thân, khẩu, ý gây ra." Không có một tôn giáo nào trên thế
gian này mà Giáo Chủ lại khẳng định với các tín đồ là "Ta và
các ngươi không khác. Ta là Phật đã thành, Các ngươi là Phật sẽ
thành." Cũng không có một tôn giáo nào mà Giáo chủ lại nói với
các tín đồ: "Đừng có tin những lời ta nói vì ta là Phật, mà chỉ
tin khi đã chứng nghiệm vào chính bản thân những lời ta nói là không hư
dối.". Nói tóm lại con đường của Phật Giáo để giải quyết các
vấn đề là con đường tự chứng, con đường giác ngộ, trong khi con đường
của KiTô giáo là con đường dựa vào ơn "cứu rỗi" của một
người khác.
Để độc giả có một khái niệm
về sự khác nhau giữa một tôn giáo "cứu rỗi" và một tôn giáo
"giác ngộ" tôi xin trích dẫn vài đoạn sau đây của Tiến Sĩ
George Dennis O'Brien, Giáo sư Triết, Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester,
:trong cuốn "Thần Và Đường Xe Lửa ở New Haven.Và Tại Sao Cả Hai
Đều Chẳng Mấy Thành Công" ("God and The New Haven Railway. And Why
Neither One Is Doing Very Well", Beacon Press, Boston, MA., 1986, trg. 101-108).
Chúng ta nên để ý rằng, cũng như Bertrand Russell, Giáo sư O'Brien đã so
sánh Giêsu với Socrates và Đức Phật, nhưng dưới một khía cạnh khác, ngả
về trí tuệ thay vì đạo đức.
"Một tôn giáo "giác ngộ"
tăng tiến trí tuệ tâm linh hoặc đạo đức của chúng ta bằng một giáo
pháp nào đó. Một tôn giáo "cứu rỗi" cải đổi đời sống của
chúng ta bằng cách dẫn chúng ta sống đời sống của chúng ta trong một người
khác.
...Khi bậc Thầy xuất chúng qua đời,
giáo pháp của ông ta có thể tiếp tục sống.. Ông ta có thể có một
giáo pháp như Tám Thánh Đạo khiến cho cái trí tuệ chuyên biệt của ông
ta tồn tại vĩnh viễn. Ngay cả khi bậc Thầy không để lại một giáo
pháp nào mà chỉ là mẫu mực của một trí tuệ tìm tòi và lý tưởng về
tính Thiện, như Socrates, cái gương sáng của ông Thầy tồn tại và làm
tiêu chỉ cố gắng cho những đệ tử sau này. Tất cả những phương tiện
trên để tiếp nối "đời sống của Sư Phụ" đều có ý thức
cao và được áp dụng rộng rãi cũng như là trái đất chứa đầy những
kẻ lắm điều. Nhưng cái khung truyện đó không phải là chủ trương của
Tân Ước. Không phải là giáo pháp của ông Thầy tồn tại, mà là chính
"ông Thầy". Mà dù như vậy đi chăng nữa thì cũng không có
"ông Thầy" mà chỉ có "ông cứu thế". Vì cách duy nhất
để có một tôn giáo cứu rỗi là qua sự xâm nhập vào đời sống của tôi
của một người có ý nghĩa lạ lùng khác, cái "người khác" này
thật là cần thiết để cho câu chuyện có thể tiếp tục. Không có sự
"sống lại" thì không thể có chuyện để mà kể.
Do đó, tôn giáo cứu rỗi tùy
thuộc ở "cải đổi", "sống lại", "thay đổi tận gốc
rễ" trên căn bản một đời sống sống với một người khác.
...Trong một tôn giáo cứu rỗi, ta
không thể đạt được một trình độ tâm linh cao bằng cách học hỏi về
một chân lý nào đó, một sự kiện nào đó, một con người nào đó. Tất
cả những điều trên đều có tính cách giáo dục và cao quý, nhưng đó
không thuộc một truyện phim thuộc loại cứu rỗi. Trong câu chuyện
về tội lỗi và cứu rỗi, con người tới một trạng thái mới bằng
cách sống với một người khác.
Giêsu có hội đủ những tiêu chuẩn
của những bậc Thầy xuất chúng về tâm linh không? Không đâu. Cái tiêu
chỉ của sự siêu quần về tâm linh là con người phải là một bậc Thầy
xuất chúng về tỉnh thức, về trí tuệ tâm linh, hoặc một tâm bình lặng.
Giêsu không phải là một ông Thầy, mà là một ông cứu thế.
Chúng ta hãy coi một bậc Thầy xuất
chúng. Socrates là một thí dụ tốt. Socrates là một đ_
ại sư về tỉnh thức tâm linh.
Ông ta cho rằng ông không biết gì cả, chỉ đặt cho học trò vài câu hỏi
có tính cách mưu mẹo, thách đố. Socrates muốn chắc rằng học trò bám
vào chân lý chứ không bám vào Socrates.
Đức Phật là một thí dụ về một
bậc Thầy "tôn giáo" xuất chúng cũng có cùng giáo pháp tự chứng
như Socrates.
Đức Phật không phải là một đấng
cứu rỗi, Người là Đấng Giác Ngộ. Người đã chứng được những chân
lý về nhân sinh, và Người đã đưa ra Tám Thánh Đạo để hướng dẫn
con người đạt tới cùng sự giác ngộ như Người và do đó thoát khỏi
khổ đau..
Tương phản với những bậc Thầy
xuất chúng kể trên, chúng ta phải nói rằng Giêsu hiển nhiên hiểu lầm về
vai trò của một giáo pháp. Giêsu không có học trò (hay đệ tử) mà chỉ
có môn đồ (hay tông đồ). Và điều này không phải là ngẫu nhiên. Giêsu
nói: "Kẻ nào "tin vào" ta thì sẽ được sống đời đời."
Không phải là tin vào giáo pháp của ta mà tin vào chính TA. Lời tuyên xưng
này không làm cho anh được cái giải thưởng giáo dục của E. Harris
Harbison. Cái mà Giêsu "biết" không phải là sự giác ngộ, Giêsu chỉ
biết Chúa Cha: "Chỉ có con mới biết Cha", "Kẻ nào biết TA sẽ
biết Cha", "Chỉ có thể đến với Cha ta qua TA".
Bất cứ Ki-Tô Giáo có thể là
cái gì khác, có vẻ như là ở ngoài mặt rõ ràng đó là một tôn giáo
thuyết giáo về sự cứu rỗi và một đấng cứu rỗi. Trước khi chúng ta
cảm thấy chán ngấy với ý tưởng này, điều quan trọng là chúng ta phải
nhớ rằng hầu hết những chủ lực tinh thần lớn khác, không những là
không thuyết giáo về sự cứu rỗi mà trong vài trường hợp, còn thực sự
khinh ghét ý tưởng này. Hồi Giáo là một trường hợp điển hình... Người
theo Hồi Giáo thấy rằng cái khái niệm Ki-Tô về một đấng cứu rỗi đã
làm hạ phẩm giá của cả đấng cứu rỗi lẫn người được cứu rỗi.
Để sống đạo hạnh và tiến tới
Giác Ngộ, con người cần những bậc Thầy chứ không cần tới các đấng
cứu rỗi. Sự khác biệt thật là quan trọng. Xét về toàn diện, những
tôn giáo đạo đức hay giác ngộ thì hợp với xu hướng của người Mỹ
ngày nay hơn. Những tôn giáo này có hai lợi thế rõ rệt so với những
tôn giáo dựa theo Thánh Kinh. Trước hết là những tôn giáo này có vẻ như
là những con đường tâm linh tự lực Điều này hợp với tinh thần độc
lập và tự tin của người Mỹ. Tuy rằng các bậc Thầy xuất chúng rất
là đáng quý trong các tôn giáo này, nhưng họ cũng có thể được để qua
một bên, và con người có thể tự học lấy. Người ta không thể tự cứu
rỗi trong tôn giáo dựa vào Thánh Kinh. Lợi thế thứ nhì của các tôn
giáo giác ngộ và đạo đức là những tôn giáo này có thể dẹp bỏ phần
lớn cái mưu toan thần học. Nếu thực sự có các Thần - và trong Phật
Giáo có vẻ như là không hề có - thì vai trò của các Thần là những bậc
Thầy hữu ích (nhưng có thể bỏ qua), hoặc là những lý tưởng hay những
nhân vật gương mẫu. Chân lý nằm trong giáo pháp chứ không nằm trong
ôngThầy - Cứu rỗi. "
(A religion of enlightenment improves our
spiritual wisdom or our moral behavior by some teaching. A salvational religion converts
our life by leading us to live our lives in another.
...When the great teacher dies, his
teaching may well live on...He may have a teaching like the Noble Eightfold Path, which
perpetuates his special wisdom. Even if the teacher leaves no teaching but only the
example of an inquisitive mind and the ideal of the Good, like Socrates, the example of
the teacher remains to be emulated by later students. All of those means of continuing
"the life of the teacher" are eminently sensible and as broadly practiced as the
planet is covered with talkers. But that scenario is not the New Testament line. It isn't
the teacher's teaching that lives on, it is the "teacher". But if that how it
is, it is no "teacher" but "savior". Since the only way to have a
salvational religion is through the intrusion in my life of a strangely significant other,
this "other" is indispensable for the ongoing story. Without
"resurrection" the story cannot be told.
...Salvational religion depends, then, on
"conversion", "resurrection", "radical change" on the basis
of a life lived with another.
...In a salvational religion, one does not
spiritual 10 by learning about some truth, fact, or person. All that is teacherly and
noble, but it is not part of a salvational scenario. In a sin and salvation story, one
comes to a new state by living with another.
...Does Jesus conform to the pattern of
the great spiritual masters? He does not. The norm for spiritual masterhood is that one be
a great teacher of enlightenment, spiritual wisdom, or the tranquil mind. Jesus is not a
teacher, he is a savior.
Consider a great teacher. Socrates is a
good example. Socrates is a master of spiritual enlightenment...He claims to know nothing;
he only asks a few tricky questions...Socrates wants to make sure that the pupil is
attached to the truth, not to Socrates.
Buddha is an examplar of a great
"religious" teacher under the same Socratic self discipline.
Buddha is not a savior, He is the
Enlightened One. He has seen the truths of human life, and he offers the Noble Eightfold
Path as a guide to similar enlightenment and release from suffering..
In contrast to these great teachers, one
would have to say that Jesus evidently misunderstands how teaching is played out. Jesus
doesn't have students, he has disciples. And not accidentally. Jesus says, "he who
believes in ME shall never die." Not who believes in my teaching, but who believes in
ME. That claim will not get you the E. Harris Harbison Award for teaching. What Jesus
"knows" is not enlightenment; he knows the Father. "Only the Son knows the
Father. He who knows ME knows the Father. Only through ME can one come to the Father.
Whatever else Christianity may be, it
seems on its face clearly to be a religion which preaches salvation and a savior. Before
one becomes instantly bored with that idea, it is important to note that most other
significanr spiritual contenders not only don't preach salvation, in some cases they
positively dislike it. Islam is a case in point. Muslims find the Christian notion of a
savior demeaning both to the saver and the saved.
...For enlightenment and morality one
needs teachers, not saviors. The distinction is crucial. On the whole, religions of
morality or enlightenment are much more palatable to contemporary American taste. They
have two distinct advantages over the Biblical tradition. In the first place they appear
to be do-it-yourself spiritualities. This conforms to an American taste for independence
and self-reliance. Although great teachers are valuable in these traditions, they are also
dispensable, and one can be self-taught. One cannot be self-saved in the Biblical story.
The second advantage of religions of enlightenment and morality is that they can dispense
of most theological machinery. If there are Gods at all - and in Buddhism there appear to
be none - then their role is either as helpful (but dispensable) teachers or as ideals and
examplars. The truth is in the teaching, not in the teacher-savior.)
Vì hiểu niềm tin CaTô được gò
ép từ nhỏ và củng cố như thế nào nên bài viết này không có mục đích
phủ bác niềm tin của ông Đỗ Mạnh Tri hay của bất cứ ai. Và lẽ dĩ
nhiên, bài này không phải để cho những "bà lão công giáo nhà
quê" đọc, dù rằng các bà đó biết đọc. Vì, theo Linh Mục Thiện Cẩm,
báo Chính Nghĩa, số 381, thì "chỉ cần một bà lão công giáo nhà
quê, cũng có dư khả năng để trả lời những thắc mắc của nhà học giả
Trần Văn Kha. Thật vậy, theo niềm tin KiTô giáo, thì Thiên Chúa là Đấng
toàn năng (lại toàn năng!!), chính Người đã tạo dựng nên thế giới
muôn loài (nghĩa là cả những bão lụt, sấm sét, thiên tai, vi trùng đủ các
thứ bệnh, v..v..) , vậy thì việc dựng nên linh hồn cho mỗi con người,
đâu có khó khăn gì (các em nhỏ sơ sinh bị khuyết tật, bị bệnh chứng
Down, bị trì trệ trí óc (mentally retarded)nên cám ơn Thượng Đế toàn năng
này) Tác giả Thiện Cẩm dựa vào lý luận trên để viết rằng: "như
vậy làm sao có thể đối thoại nghiêm chỉnh với một người như ĐGH
Gioan PhaoLô II?" Thảo luận trí thức như vậy thì thật là hết sẩy,
cho nên tôi biết thân biết phận, xin chịu thua bà lão công giáo nhà quê
(thực ra chính là Thiện Cẩm) trước. Nhưng xét cho cùng thì niềm tin của
John Paul II có khác gì của bà lão công giáo nhà quê, vì Ngài đã chẳng
phán rằng: "Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ có thể
hoặc chấp nhận hoặc chối bỏ." Vì 80% số người trên thế giới
không phải là những bà lão công giáo nhà quê nên họ đã dứt khoát chối
bỏ điều mặc khải này, và hơn 90% dân Việt Nam không phải là những bà
lão công giáo nhà quê nên cũng đã dứt khoát chối bỏ mặc khải này.
Ở đây, tôi chỉ làm công việc
phân tích sự kiện dựa trên lịch sử và những tài liệu hiện hữu. Tôi
không nói rằng, khi viết bài này trong đó có những vấn đề thuộc lịch
sử, thuộc những vấn đề tế nhị tôn giáo, tôi tuyệt đối không có
thiên kiến. Một danh nhân đã nói rằng: "Người nào viết sử mà
không có thiên kiến thì người đó phải có cái mặc cảm của Thần"
(Those who write history without bias must have a God complex). Tuy nhiên, tôi đã cố
giữ tính cách khách quan bằng phương pháp trích dẫn tài liệu có kèm theo
văn bản gốc để cho các độc giả tùy nghi tham khảo và nhận định về
mỗi vấn đề. Tôi tin rằng quý độc giả có dư khả năng để nhận định
vấn đề. Còn về niềm tin thì ai muốn tin sao cũng được, mỗi người có
một căn trí riêng và một nghiệp riêng.
Trên con đường xây dựng một quốc
gia Việt Nam thống nhất và hòa thuận, sự hòa hợp giữa các tôn giáo là
một ưu tiên đứng hàng đầu Tại sao vậy? Linh Mục Lương Kim Định có
viết trong cuốn "Cẩm Nang Triết Việt" một câu rất chính
xác, dựa theo những sự kiện lịch sử:
"Sự truyền đạo Thiên Chúa
vào Việt Nam đã đưa đến sự chia khối dân tộc ĐANG THỐNG NHẤT THÀNH
HAI PHE LƯƠNG GIÁO làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức nhối
đầy e dè nghi kỵ" và rằng: "Sự nghi kỵ này xem ra không
sao xóa sạch được."
Vậy then chốt của vấn đề là
làm sao xóa sạch được những nghi kỵ nhức nhối trong lòng dân tộc. Tôi
cho rằng con đường tốt nhất để đi đến mục đích này là phân tích
các vấn đề cho cặn kẽ, với tinh thần lương thiện trí thức, tôn trọng
và chấp nhận sự thực để đi đến một sự chuyển hóa toàn diện. Như
vậy, những tín đồ Ca Tô Giáo La Mã tại Việt Nam cần phải nghiên cứu
kỹ nguyên nhân của vấn đề nhức nhối dân tộc này, và phải có can đảm
chấp nhận những sự thực về tôn giáo của mình trong lòng dân tộc Việt
Nam. Đám tín đồ thấp kém, thiếu hiểu biết thì không nói làm gì, nhưng
các bậc trí thức phải có bổn phận nghiên cứu tường tận vai trò của
tôn giáo của mình trong lòng dân tộc và hướng dẫn quần chúng tín đồ
trên con đường hiểu biết, không nên duy trì những điều không còn phù hợp
với trình độ văn minh và hiểu biết của nhân loại hiện thời, và đi
ngược lại truyền thống yêu nước, yêu độc lập của dân tộc. Tôi có
thể khẳng định rằng, sự nghi kỵ nhức nhối nói trên có xóa sạch được
hay không hoàn toàn tùy thuộc ở những người Ca Tô Việt Nam, chứ không
tùy thuộc ở hơn 90% những thành phần dân tộc còn lại. Vì, cái nguyên
nhân sinh ra sự nghi kỵ nhức nhối này, theo Linh Mục Kim Định, là do sự
du nhập của Thiên Chúa Giáo vào Việt Nam. Những ý kiến rải rác trong phần
trên của bài này và vài ý kiến sau đây của tôi hi vọng có thể giúp họ
tìm ra một lối thoát:
Cuốn "Đối Thoại.."
đã đưa ra một số sự thực về vấn nạn trên và chứa nhiều tư tưởng
đưa đến sự hòa hợp dân tộc, nhưng những người Ca Tô Việt Nam, ngay cả
những bậc trí thức, không nhận ra được chỉ vì họ bị một chướng
ngại tôn giáo (religious handicap) ngăn trở. Cái chướng ngại tôn giáo này
nằm trong cái truyền thống CaTô và những sách lược của giáo hội nhằm
nắm giữ đầu óc tín đồ. Cuốn "Đối Thoại.." ra đời đã
được gần 2 năm, và sau một thời gian lâu không thấy phản ứng, nay tôi
mới được đọc 2 bài phê bình tuyển tập này của hai tác giả trí thức
Ca Tô: Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Chức, và cuốn "Ngón Tay Và Mặt
Trăng" của ông Đỗ Mạnh Tri.
Điều không còn nghi ngờ gì nữa
là các ông Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Chức, và Đỗ Mạnh Tri đều là
các bậc trí thức. Nhưng tôi cảm thấy thất vọng khi đọc những lời phê
bình của họ vì tôi không thấy ở bất cứ bài nào một sự thảo luận
trí thức đứng đắn mà chỉ có những ngộ nhận, xuyên tạc cố ý để
chống đỡ và bênh vực Giáo hoàng một cách mù quáng, trong khi chính Tòa
Thánh Vatican đã nhìn nhận sự sai lầm của Giáo Hoàng và xin lỗi Phật
Giáo. Nhất là sự hiểu biết của họ về lịch sử tôn giáo của họ và
về Thánh Kinh thì lại càng đáng phàn nàn hơn nữa. Cũng vì vậy mà những
luận cứ họ đưa ra không dựa trên luận lý (lôgic) hay các sự kiện mà
chỉ dựa trên cảm tính riêng dưới ảnh hưởng nặng nề của niềm tin tôn
giáo. Tôi không hiểu tại sao mang danh là trí thức mà họ lại có đầu
óc như vậy cho đến khi tôi đọc một cuốn sách mới xuất bản của
Ernie Bringas, một nhà Thần học Ki Tô, cuốn "Theo Đúng Sách Vở: Những
Thảm Trạng Trong Hiện Tại và Quá Khứ của Sự Tin Tuyệt Đối Vào Thánh
Kinh" ("Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical
Authority", Hampton Roads Publishing Company, Inc., Charlottesville, VA., 1996).
Trong cuốn sách này, tác giả đã để nguyên một chương dài 20 trang, từ
trang 70 đến trang 90, để tìm hiểu đầu óc của những tín đồ Ki Tô
Giáo mà ông cho là thuộc loại có một khuyết tật (an astrolabe mind): một
đầu óc nhận thức về hiện tại với một tâm cảnh của quá khứ. (one
who perceives the present with a mind-set of the past). Nói một cách tóm tắt thì một
người có đầu óc như trên là một người có một "điểm mù"
(blind spot) trong sự cân nhắc trí thức của họ. Họ có thể theo kịp đà
tiến triển của nhân loại trong mọi lãnh vực của sự hiểu biết, trừ
lãnh vực tôn giáo, trong lãnh vực này kiến thức của họ thuộc thời
Trung Cổ. Theo Ernie Bringas thì:
"Những tín đồ Ki Tô từ chối
không dung dưỡng một nghi vấn nào về cái mà họ coi là chân lý của Thượng
đế. Nếu Thánh Kinh là lời của Thượng đế và giáo hội là do chính con
của Thượng đế, Giê-Su, xây dựng, thì không thể có sự sai lầm trong sự
diễn giảng Thánh Kinh của Giáo hội. (Lịch sử đã chứng tỏ trong quá khứ,
Giáo hội đã nhiều lần diễn giảng sai lầm vì tin vào những điều sai lầm
trong Thánh Kinh. TCN) Đặt nghi vấn hay thách đố những nền tảng tín ngưỡng
trên là phá ngầm giá trị và thẩm quyền của Thánh Kinh, của Giáo hội,
và Giê-Su. Do đó, không giống như các bộ môn đang trưởng thành khác
trong đó người ta loại bỏ những tư duy sai lầm trong cuộc chiến để đạt
tới chân lý, toàn thể Ki Tô giáo hầu như nhất trí loại bỏ những khám
phá của sự tìm hiểu khoa học nào không phù hợp với những quan điểm
truyền thống về Thánh Kinh.
Đó là sự khởi đầu của một tâm
cảnh khuyết tật - một tâm cảnh cố thủ chống lại sự thực, dựa
trên giả định là Kinh Thánh chứa những kiến thức rốt ráo, một tâm cảnh
tuyên bố rằng mọi chuyện trong Thánh Kinh đều là những chuyện thực sự
xảy ra trong lịch sử; một tâm cảnh tuyên bố rằng cái mà họ cho là
thiêng liêng thì đặc biệt không thể thay đổi được, một tâm cảnh lấy
thẩm quyền (của Thánh Kinh) làm chân lý của mình thay vì lấy chân lý
làm thẩm quyền của mình.
...Đại đa số những tín đồ Ki Tô
- và kéo theo những người phi Ki-Tô - là nạn nhân của một khoảng cách
kiến hức đã đặt họ vào một trình độ hiểu biết tôn giáo thích hợp
với thế kỷ thứ 17 hơn; do đó, có một đầu óc khuyết tật."
(Christians refused to allow a question
mark on what they considered to be divine truth. If the Bible was the word of God, and the
Church was created by God's own son, Jesus, there could be no error in how the Church
interpreted the Scriptures. To question or challenge these foundations would undermine the
validity and authority of the Bible, the Church, and Jesus. Thus, unlike other maturing
disciplines that discarded faulty thinking in their struggle to obtain truth, Christianity
almost universally rejected the findings of scientific investigation that conflicted with
traditional views about Scripture..
It was the beginning of the astrolabe mind
- a mind entrenched against truth on the assumption that the Bible possessed ultimate
knowledge, a mind which declared all biblical stories to be historical happenings; a mind
which declared that what it considered sacred was specifically unalterable; a mind which
made authority its truth rather truth its authority.
...The vast majority of Christians - and
for that matter non-Christians - are victims of a knowledge gap which places them at a
level of religious understanding much more appropriate to the seventeenth century; ergo,
the astrolabe mind)
Hiểu như vậy rồi, tôi thấy các
tác giả trí thức Ca Tô nói trên thật là đáng thương vì từ nhỏ họ đã
phải mang một đầu óc khuyết tật, khó có thể chữa lành trừ phi họ
có một nghị lực và lòng dũng cảm mạnh mẽ. Và như vậy, hiển nhiên,
khi những tín đồ Ca Tô Việt Nam cất bỏ được cái "astrolabe
mind" hay "astrolabe mentality" đi và hướng dẫn khối tín đồ kém
hiểu biết theo Chánh Đạo (Chánh Đạo ở đây không nên hiểu là Bát
Chánh Đạo) thì vấn đề hòa hợp Lương Giáo sẽ không còn là vấn đề
nữa. Và đây chính là cái phúc của người dân Việt Nam. Nhưng làm sao cất
bỏ được cái khuyết tật trong đầu óc họ? Hi vọng Thượng đế trong họ
chứ không phải là Thượng đế ngoài họ sẽ giúp họ thành công trong vấn
nạn này.
Trần Chung Ngọc
Madison - Wisconsin: Mùa Nắng Hạ
