| .......... |
. |
-
-
- "NHÂN QUYỀN" ! CỦA
AI & CHO AI?
- Trần Chung Ngọc
Vài lời giới thiệu:
Tờ tuần báo Chánh Đạo (phát hành ở San Jose, California),
do NT Ngô Văn Bằng làm chủ bút, thực chất là tờ báo phá đạo - lợi dụng
danh nghĩa Phật giáo để khơi động sự chia rẽ, mâu thuẫn trong hàng ngũ
các giới Tăng, Ni trong và ngoài nước. Mục tiêu cá nhân của Nguyên Trung
là lợi dụng tờ báo làm chỗ dựa cho miếng cơm manh áo; nhưng đồng thời
một vài chức sắc trong ban lãnh đạo của Giáo hội Phật Giáo VNTN ở nước
ngoài đã làm lơ để cho tờ Chánh Đạo mượn danh nghĩa của các Ngài,
màkhông hề lên tiếng. Trong các số báo từ 24.3.01 đến 5.5.01, tuần báo
CĐ đã đăng tải loạt bài của Nguyễn Sĩ Tiến 'Nghè TCN: một tâm địa
xỏ lá, một kiến thức sơ sài về nhân quyền' nhằm vào mục đích đánh
lạc hướng dư luận và hạ thấp uy tín của giáo sư Trần Chung Ngọc, xuyên
tạc vào các hoạt động từ thiện, xã hội của tổ chức Giao Điểm; mặt
khác biện hộ cho ông Võ Văn Ái - một người không đủ nhân cách trong
quá khứ để hoạt động cho các mục tiêu nhân quyền.
Chúng tôi thỉnh cầu các bậc tôn đức trong Giáo hội Phật
giáo VNTN ở hải ngoại cũng như trong nước hãy công khai lên tiếng, minh
xác về tờ Chánh Đạo để công luận khỏi nhầm lẫn là cơ quan ngôn luận
chính thức của Giáo hội PGVNTN; chấm dứt mọi sự liên hệ với vài cá
nhân đang hành sự cho chiêu bài "Nhân quyền" mang những tính chất
thế tục đầy cạm bẩy rất có hại cho uy tín, truyền thống dân tộc của
Giáo hội đã truyền thừa từ hơn hai ngàn năm.
Thật vậy, nhân quyền không phải là lương tri của giới
trí thức Mỹ, nó là một trong những chính sách hoạch định của các tổ
chức 'Hội đồng về Quan hệ Quốc tế' (The Council on Foreign Relations) [1];
Uỷ ban Phát triển Kinh tế (The Committee for Economic Development); và Cơ quan Gây
quỹ Quốc gia cho mục tiêu Dân chủ (NED-National Endowment for Democracy) chỉ
là một bộ phận nhỏ của các tổ chức trên (theo giáo sư TCN, đây là cơ
quan đang tài trợ cho ông Võ Văn Ái). Mặc dù hoạt động dưới hình thức
tổ chức tư nhân, hay nhóm thảo luận (group discussion),.v.v..., nhưng trên thực
tế các chính sách này được sử dụng và điều hướng bởi chính phủ Mỹ,
đặc biệt là cơ quan Tình báo Trung ương (CIA). Liên tục trong hơn ba thập
niên qua, nhân quyền trở thành chiêu bài trong chính sách đối ngoại của
Mỹ, nhưng đã thất bại hoàn toàn. Qua những thất bại của chiêu bài
nhân quyền, hiện nay, về tư tưởng triết lý đối ngoại của Mỹ đã bị
đông cứng, và nhân quyền không còn được sử dụng nữa, nhưng cơ quan
NED vẫn còn tài trợ cho một vài nhóm lẻ tẻ để phục vụ cho quyền lợi
của Mỹ (national interest). John Ranelagh (tác giả, giám đốc đài truyền
hình số 4 Anh quốc) đã nhận xét về chính sách này: "Hậu quả không
tránh khỏi của việc thoái bộ chính sách đối ngoại điều hướng bởi
nhân quyền và sự chấm dứt khả năng các họat động bí mật
(covert-action) là sự giải thoát thầm lặng của Mỹ đã từng tạo nên những
'thất bại' huyên náo... "Mỹ đã đánh mất ý nghĩa về mục tiêu bang
giao quốc tế sau thất bại quân sự, kinh tế khổng lồ và nổ lực lý tưởng
ở Việt Nam". [ 2 ] Sự thất bại khi sử dụng chiêu bài nhân quyền
trong chính sách đối ngoại của Mỹ là sự thất bại liên tục kéo dài hơn
ba thập niên qua đến hôm nay. Stanfield Turner (giám đốc CIA nhậm chức từ
9/3/1977, từ chức ngày 20/1/1981) trong cuộc phỏng vấn của John Ranelagh
ngày 20/7/1983 đã mô tả sự mâu thuẫn trong công tác giữa nhân sự làm việc
và hệ thống như sau: "Họ [nhân viên thuộc cấp - người viết chú
thích] làm công việc phân tích một đàng, trong lúc những người làm
chính sách muốn cách khác. Tôi từng gặp phải rắc rối như vậy. Khi tôi
muốn vài bản phân tích vào chiều ngày mai thì họ lại nói 'Chúng ta sẽ
có vài tin tức mới trong tuần tới, có thể chờ được không ?'. Thế là
tôi phải đốp chát ngay: 'Tôi không cần. Tổng thống cần phải có quyết
định ngày mốt. Tôi đếch cần những gì anh sẽ có trong tuần tới'."
[ 3 ]. Đây làthất bại chính sách khởi đầu từ J.Schlesinger, W.E. Colby,
George H.B. Bush, Stansfield Turner, W.J. Casey, W.H. Webster, và...? Trên thực tế,
người Mỹ không còn tin tưởng vào đức lý trong chính sách đối ngoại của
chính phủ họ. Quyền lợi quốc gia khó có thể song hành với lý tưởng
nhân loại. Ghi nhận các dữ kiện trên để có thể khẳng định rằng nhân
quyền là 'vũ khí' đã được Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ sử dụng
nhưng thất bại trong quá khứ, nhưng vẫn có thể được sử dụng lần nữa
nếu có những thành phần nồng nhiệt làm tay sai tự nguyện.
Bài "Nhân Quyền! Của Ai và Cho Ai ?" của giáo sư
Trần Chung Ngọc dưới đây là một bài nghiên cứu công phu, qua những
phân tích đầy trí tuệ, sắc bén. Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy
về khoa học ở các bậc đại học Mỹ, bài viết của giáo sư Ngọc xứng
đáng làm một giáo trình giảng dạy, một tài liệu cho các nghiên cứu
sinh hậu đại học về môn "Nhân quyền"; và chúng tôi đề nghị
người sinh viên hàm thụ đầu tiên là ông Nguyễn Sĩ Tiến. Chúng tôi xin
được cung kính dâng lên quý Ngài trong ban lãnh đạo Giáo hội Phật giáo
VN Thống nhất ở hải ngoại như một nén hương, cùng nhau thắp sáng trí
huệ, hồi hướng ngày Xá tội Vong nhân (Rằm tháng bảy Âm lịch) sắp đến
trên toàn cả nước; và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Phụ trách trang NC&ĐT.
* * *
Trong bài "Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu
Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại" (Trang Nhà Giao
Điểm, Giao Điểm số 39,40; Chuyển Luân số 23; Hoa Sen số 42), từ đây về
sau được viết tắt là NQ&TDTG, tôi đã trình bày sơ lược vài
tài liệu về thực chất và nội dung cái gọi là bản "Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền" của Liên Hiệp Quốc. Trong bài trên, tôi có viết rằng:
"Điều rõ ràng là những điều khoản trong bản tuyên ngôn phản ánh
những chế độ, văn hóa và xã hội Tây phương vì năm 1948, Liên Hiệp Quốc
nằm trong sự thao túng của các cường quốc Âu Mỹ. Bởi vậy, một số
lãnh tụ Á Châu, như Thủ Tướng Mã Lai Mahathir Mohamad, gần đây đã cho rằng
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là sản phẩm của những quốc gia
Tây phương, không hiểu gì về các xã hội Đông phương, có tính cách xâm
lược văn hóa của chính sách đế quốc Tây phương (Some Asian leaders, like
Malaysian Prime Minister Mahathir Mohamad, denounce it (the Declaration) as Western
cultural imperialism), và đề nghị phải duyệt lại bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền
này. Phải chăng vì vậy mà cho tới ngày nay, đường đi tới sự thực hiện
bản Tuyên Ngôn trên bình diện quốc tế vẫn còn xa lắc, xa lơ? (Doug
Cassel: "The Universal Declaration still is a long way from universal reality").
Doug Cassel là Giám Đốc Trung Tâm Nhân Quyền Quốc Tế tại đại học
Northwestern, Illinois." Tôi cũng còn viết: "Đây là một bản văn dùng
để ép những nước nhược tiểu phải theo những quy định về quan niệm
nhân quyền rất nhỏ hẹp của Tây phương mà bỏ qua vấn đề (trong đó
có những quan niệm khác nhau) về nhân quyền trong cộng đồng quốc tế."
Bài viết này là để bổ túc cho bài trên, khai triển
và chứng minh những chủ đề chính yếu tôi vừa trích dẫn. Muốn hiểu
rõ vấn đề, chúng ta không thể không trở lại nguồn gốc thành lập
Liên Hiệp Quốc (1945), thực chất của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
(1948), và những Giao Ước Quốc Tế về Nhân Quyền sau đó (1966).
Sự thành hình của tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) có thể
tóm tắt như sau: ý tưởng thành lập một tổ chức quốc tế để phục vụ
hòa bình thế giới là do đại tá Edward Mandell House, cố vấn thân cận nhất
của Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson, đề nghị từ tháng 9 năm 1917. House
thuyết phục Tổng Thống Wilson thành lập một nhóm trí thức để nghĩ ra
những điều kiện cho hòa bình và dự thảo chương trình cho một tổ chức
lãnh đạo thế giới (World Government). Sau đó một chương trình 14 điểm
được trình lên quốc hội Mỹ ngày 18 tháng 1, 1918, nội dung là những đề
nghị về chiến thuật hòa bình để cứu thế giới (a peace strategy to save
the world). Chương trình này bị quốc hội Mỹ bác bỏ hai lần, ngày 19
tháng 11, 1919 và ngày 20 tháng 3, 1920.
Trong năm 1919, Mỹ thành lập Viện Quốc Tế Vụ Hoa Kỳ
(American Institute for International Affairs) Hai năm sau, 1921, viện này nhập
chung với Hội Đồng chuyên về vấn đề quan hệ với nước ngoài (CFR:
Council on Foreign Relations), một nhóm thảo luận trí thức được thành lập
tại New York trước đó. Hội đồng này rất có uy tín trong nước Mỹ, xuất
bản 3 tháng một kỳ tập san Ngoại Vụ (Foreign Affairs), một tờ báo
nghiên cứu những quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị v..v.. giữa các nước
trên thế giới, được coi là có ảnh hưởng nhiều nhất trên đường lối
ngoại giao của Mỹ cho tới tận ngày nay.
Tháng 9, 1939, Đức Quốc Xã tấn công xâm chiếm Ba Lan, mở
màn cuộc Đệ Nhị Thế Chiến. Ngày 14 tháng 8, 1941, Tổng Thống Hoa Kỳ
Roosevelt và Thủ Tướng Anh Winston Churchill ký Hiến Chương Đại Tây Dương,
nêu ra điều cần thiết thành lập một hệ thống an ninh tổng quát thường
trực và rộng rãi hơn. Bản Hiến Chương này không ghi gì về một tổ chức
quốc tế.
Ngày 21 tháng 9, 1942, Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua quyết nghị
Fulbright, đồng ý "thành lập một guồng máy quốc tế thích hợp có
đủ quyền để thiết lập và duy trì một nền hòa bình đúng và lâu dài
cho các quốc gia trên thế giới." Vài tuần lễ sau, tháng 11, 1942, Thượng
Viện Hoa Kỳ chấp thuận quyết nghị Conally, công nhận "sự cần thiết
thành lập sớm một tổ chức quốc tế; đặt căn bản trên nguyên tắc
bình đẳng về chủ quyền của mọi quốc gia yêu chuộng hòa bình, và những
quốc gia này, lớn hay nhỏ, đều được gia nhập, để duy trì hòa bình
và an ninh thế giới."
Trước đó 1 tháng, vào tháng 10, 1942, ngoại trưởng Hoa Kỳ
Cordell Hull sang Moscow họp với các ngoại trưởng Anh và Nga Sô. Kết quả
là bản Tuyên Ngôn Moscow, trong đó có cả Trung Hoa Dân Quốc, tất cả là 4
nước, tuyên bố hợp tác chặt chẽ với nhau sau chiến tranh và tiến tới
việc thành lập một tổ chức quốc tế để giữ hòa bình. Vào giữa năm
1944, bản dự thảo của 4 quốc gia trên đã được dùng làm căn bản thảo
luận trong hội nghị Dumbarton Oaks. Từ hội nghị này căn bản cấu trúc của
Liên Hiệp Quốc thành hình.
Ngày 25 tháng 4, 1945, một hội nghị được triệu tập ở
San Francisco để thông qua Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Trong phái đoàn
của Mỹ có hơn 40 vị đã từng thuộc, hoặc sau này tham gia Hội Đồng
CFR của Mỹ. Điều này chứng tỏ Mỹ đã thành công trong việc đạt được
mục đích của mình: thành lập một tổ chức quốc tế trong đó ảnh hưởng
của Mỹ chi phối các hoạt động của tổ chức. Cho tới ngày nay, Mỹ là
nước đóng góp nhiều nhất vào quỹ hoạt động của Liên Hiệp Quốc,
và thường dùng sự đóng góp này làm áp lực để đạt được những mục
đích của Mỹ trên chính trường quốc tế. Trong một phần sau tôi sẽ
trình bày diễn biến mới nhất tại Liên Hiệp Quốc và áp lực của Mỹ
về vấn đề hội viên trong ủy ban Nhân Quyền quốc tế.
Một điều đáng ghi ở đây là hội nghị San Francisco
không phải là một hội nghị trong thời bình mà là trong thời chiến. Bản
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc được ký ngày 26 tháng 6, 1945, chỉ cách có
vài tuần lễ trước khi 2 quả bom nguyên tử nổ ở Hiroshima và Nagasaki. Bản
Hiến Chương có nhắc đến nhân quyền nhưng không hề đưa ra một định
nghĩa nào về nhân quyền. Điểm đáng ghi khác là khi đó Thụy Điển, Thụy
Sĩ và Ái Nhĩ Lan bị từ chối, không được gia nhập Liên Hiệp Quốc với
lý do là "những nước này không phải là những quốc gia yêu chuộng
hòa bình – vì không chiến đấu trong đệ nhị thế chiến."
Đó là đại cương lịch sử thành lập Liên Hiệp Quốc.
Chúng ta thấy ngay rằng, sự thành hình Liên Hiệp Quốc phần lớn do ý định
của Mỹ và hầu như là sản phẩm của 4 cường quốc sau đệ nhị thế
chiến: Mỹ, Anh, Nga, và Trung Hoa Dân Quốc. Vì là những nước thắng trận,
cho nên 4 nước trên cộng với nước Pháp được hưởng quyền phủ quyết
trong Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc. Điều này chứng tỏ Liên Hiệp Quốc,
trong một thời gian sau đó, nằm trong sự thao túng của Mỹ và đồng minh.
Nga sô ở thế đối lập. Trung Hoa Dân Quốc nằm dưới dù của Mỹ và sau
này Trung Cộng thay thế ghế ngồi của Trung Hoa Dân Quốc trong Liên Hiệp
Quốc, khẳng định vị thế độc lập và đối lập của Trung Quốc đối
với các cường quốc Âu Mỹ. Tình trạng này kéo dài cho tới ngày nay.
Mục đích của sự thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc
là để thiết lập và duy trì hòa bình lâu dài trong mọi quốc gia. Nhưng
Henry Cabot Lodge, một hội viên của CFR, đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc,
đã phát biểu trước Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 24 tháng 7, 1975: "Từ
1945 đến nay đã xảy ra 14 cuộc chiến tranh giữa các nước và 24 cuộc nội
chiến với những tổn thất đáng kể" Thực ra, tình hình thế giới
còn tệ hơn vì theo tờ Courier của UNESCO năm 1970 thì "kể từ khi cuộc
đệ nhị Thế Chiến chấm dứt, đã có hơn 100 cuộc chiến giữa các nước
khác nhau và các cuộc xung đột nội bộ." (More than 100 wars or other
international and national conflicts have occurred since the end of the Second World War)
Tháng 12, 1948, Liên Hiệp Quốc tung ra Bản Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền, một tài liệu không rõ ràng, không có tính cách bắt
buộc pháp lý (Mary E. Williams, Human Rights, p. 16: declarations are not
legally binding; Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p.101: the UN
later adopted its vague, non-binding Declaration of Human Rights), nghĩa là
các quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản trong Bản
Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Tuy nhiên, Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền trên
thường được Tây phương cưỡng dùng làm thước đo vấn đề nhân quyền
trên toàn thể thế giới, một chiêu bài thường được sử dụng để đạt
được những mục đích chính trị kinh tế của Tây phương chứ không phải
vì tự thân nhân quyền. Ảnh hưởng của các cường quốc Tây phương, dựa
trên bản Tuyên Ngôn, sau này đã đưa đến việc thành hình hai Giao Ước về
Nhân Quyền trên thế giới: Giao Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền
Chính Trị (The International Covenant on Civil and Political Rights), và Giao Ước
Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International
Covenant on Economic, Social, and Cultural Rights) vào năm 1966. Trước hết chúng
ta hãy xét đến Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Có hai điều rất căn bản mà chúng ta cần biết là: thứ
nhất, khi Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời thì Mỹ và đồng
minh vừa đánh bại Đức Quốc Xã, Nhật Bản và ảnh hưởng của Nga Sô
đang bành trướng trên nửa hoàn cầu. Khi đó Mỹ ở thế mạnh nhất về
chính trị, kinh tế, và quân sự. Anh và Pháp đang lo củng cố hoặc tái lập
quyền cai trị ở các thuộc địa. 6 nước trong khối Nga Sô, Saudi Arabia
và Nam Phi vắng mặt, không ký bản Tuyên Ngôn. Thứ nhì, bản Tuyên Ngôn
không có giá trị công pháp quốc tế (legally non-binding), vì không có một
định nghĩa rõ ràng thế nào là nhân quyền, chỉ đưa ra một số điều
khoản mà Liên Hiệp Quốc, dưới sự chi phối của vài cường quốc, cho
đó là nhân quyền, do đó, theo nguyên tắc, không nước nào, cơ quan nào
có thể dựa vào Bản Tuyên Ngôn để ép buộc bất cứ quốc gia nào phải
thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn. Bởi vậy cho nên khi đó
Pháp đang công khai mở cuộc tái xâm lược Đông Dương với 80% quân phí
do Mỹ đài thọ, hòng tái lập thuộc địa ở Việt, Mên, Lào, một hành
động vi phạm trắng trợn mọi nhân quyền của người dân Việt Nam, những
quyền ghi trong Bản Tuyên Ngôn, mà không có sự phản đối của Liên Hiệp
Quốc. Và, việc Mỹ đơn phương tạo nên cuộc chiến Quốc Cộng ở Việt
Nam, đơn phương xóa bỏ hiệp định Geneva, nuốt lời tuyên bố của chính
phủ Mỹ (tuy không ký vào bản Hiệp Định Geneva nhưng sẽ không can thiệp
vào quyền tự quyết (self-determination) của các dân tộc), đổ quân và vũ
khí vào miền Nam, ném bom tàn phá ruộng nương, nhà thờ, trường học, nhà
thương, chùa chiền v..v.. trên toàn đất nước Việt Nam, trải thuốc khai
quang Agent Orange v..v.., để lại nhiều di hại cho người dân Việt Nam cho tới
tận ngày nay, không đếm xỉa gì tới nhân quyền và lòng khao khát hòa
bình của người dân Việt, muốn sống tự do và bình đẳng theo lý trí
và lương tri của mình trong cộng đồng quốc tế, cũng không có sự
chống đối nào của Liên Hiệp Quốc.
Những sự kiện trên chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một
chiêu bài hữu danh vô thực của một số cường quốc Âu Mỹ, với hậu
thuẫn của bom đạn và ưu thế kinh tế, để ép những tiểu nhược quốc
nào có thể ép được phải theo quan niệm về nhân quyền, dân chủ, đường
lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Tây phương với Mỹ đương nhiên
đứng đầu.
Không hiểu rõ điều này, không chịu nghiên cứu cho đến
nơi đến chốn, cho nên có người đầu óc thuộc loại nếu chúng ta gõ
vào trán họ thì có thể nghe được một tiếng vang lớn (Nguyễn Sĩ Tiến
trong tờ "Tà Đạo") viết bậy bạ rằng: "Tuyên
Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế, mà ta biết hiện nay, là một cố gắng tập đại
thành tích chất thiện mỹ của nhân loại.". Viết bậy bạ như trên
vì không biết rằng Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đã được dập
theo khuôn của Hiến Pháp Hoa Kỳ, và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền cũng dập
theo khuôn của Bản Nhân Quyền (Bill of Rights) của Mỹ. Thật vậy, chúng ta
hãy đọc lời nhận định sau đây: "Bản Hiến Chương LHQ được xây
dựng trên cùng những nguyên tắc của Hiến Pháp chúng ta (Mỹ). Mục đích
của tổ chức và những cơ quan chuyên biệt của nó cũng giống như của
chúng ta." (Francis X. Gannon, Biographical Dictionary of the Left, 1971,
Vol. II, p.6); Một nhận định khác như sau: "Nguyên thủy, LHQ phần lớn
là một quan niệm của Hoa Kỳ. Triết lý đằng sau nó chứng tỏ ảnh hưởng
của truyền thống Hoa Kỳ". (Richard E. Stebbins, The United States in
World Affairs, 1950, p. 278); Và nữa, " Tinh thần và phương pháp của
LHQ dập theo khuôn của nền dân chủ Hoa Kỳ" (Adlai E. Stevenson,
Department of State Publication 7505, 1973, p. 14).
Đó là về bản Hiến Chương. Vậy còn Bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền thì sao? Chúng ta hãy đọc những lời phát biểu sau đây của một
số chính khách Mỹ. ""Ngày Nhân Quyền", ngày 10 tháng 12 mỗi
năm, bắt nguồn từ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Rất nhiều
nguyên tắc của nó nằm trong bản Hiến Pháp của chúng ta cho nên Hoa Kỳ
phải rất lấy làm hãnh diện về sự hiện hữu của nó."
(Alexander Uhl, The US and The UN: Partners for Peace, 1962., p. 29); "Bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là một sự xác nhận bao quát về những
quyền chính trị và kinh tế căn bản trong Hiến Pháp của chúng ta và căn
bản lập pháp của Hoa Kỳ." (Richard N. Gardner, In pursuit of World
Order, 1964, p. 241); "Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền nằm
trong truyền thống Hiến Pháp và Bản Nhân Quyền (Bill of Rights) của chúng
ta." (President Richard Nixon, Weekly Compilation of Presidential Documents,
1971, p. 1632); "Mối liên kết giữa Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
và Bản Nhân Quyền của chúng ta thật là rõ ràng." (President Gerald
Ford, Ibid., 1974, p. 1521).
Vậy chúng ta hãy tự hỏi, đầu óc của những người như
Nguyễn Sĩ Tiến cho rằng "Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế, mà
ta biết hiện nay, là một cố gắng tập đại thành tích chất thiện mỹ
của nhân loại." thuộc loại người nào? Chẳng cần phải thông
minh cho lắm chúng ta cũng có thể hiểu, đó là loại người miệng nói
nhân quyền nhưng thực sự không hiểu thế nào là nhân quyền, và những
hành động cũng như ngôn từ hạ cấp của họ thường dùng để chụp
mũ, mạ lỵ những người không cùng ý kiến với họ, chỉ chứng tỏ một
trình độ giáo dục và hiểu biết thấp kém. Họ dựa vào một bản văn
chỉ có giá trị theo quan niệm Tây phương, nhưng vô giá trị trong cộng đồng
quốc tế, mơ tưởng có thể đạt những mục đích chính trị thời thượng.
Tại sao lại vô giá trị trong cộng đồng quốc tế ? Phần phân tích sau
đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề.
Trước hết, những người đứng đàng sau bản Tuyên Ngôn,
thí dụ như Charles Malik, một cựu chủ tịch đại hội đồng Liên Hiệp
Quốc, chủ trương đưa ra một huyền thoại về bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền
để lừa dối dư luận quốc tế như sau:
"Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, được chấp
nhận bởi Đại Hội Đồng ở Paris năm 1948 mà không có một phiếu chống
nào, là một trong những tài liệu căn bản của thời đại này...Thông điệp
trong đó không thuộc một hệ thống pháp lý riêng biệt nào, một tôn
giáo riêng biệt nào, một quan điểm về đời sống riêng biệt nào. Thông
điệp trong đó là kết quả của sự tổ hợp và xét đến quan điểm của
mọi hệ thống pháp lý, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa, và mọi quan điểm
về đời sống con người. (Charles Malik, Man in the Struggle for Peace,
p. 89)"
Không có gì hoang đường và xa sự thực hơn những lời viết
trên nếu chúng ta xét đến bản chất các hệ thống pháp lý, tôn giáo, văn
hóa khác nhau trên hoàn cầu. Cũng vì vậy mà Robert W. Lee đã phê bình câu
trên như sau:
"Hãy suy nghĩ về điều trên một lát. Có cái gì có
thể lố bịch và vô nghĩa hơn là toan tính đổ "quan điểm của mọi
hệ thống [Cộng Sản và Tư Bản], mọi tôn giáo {Ki Tô Giáo và Hồi
Giáo], mọi nền văn hóa (Tây phương và Nam Phi], và mọi quan điểm về đời
sống [luân thường và phi luân] vào một cái bình nấu cho chảy, hòa lẫn
với nhau để thành một cái gì giống như một chính sách về nhân quyền
thích đáng? Một tiền lệ chúng ta có thể nghĩ tới là toan tính nổi tiếng
của Frankenstein khi lắp các phần riêng biệt lại với nhau. Ông ta đã
sáng tạo ra một con quỷ." (Robert W. Lee, Ibid., p. 101).
Thứ đến, không phải chỉ có mình Thủ Tướng Mã Lai
Mahathir Mohamad mới cho rằng Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là sản
phẩm của những quốc gia Tây phương và có tính cách xâm lược văn hóa của
chính sách đế quốc Tây phương như đã trích dẫn ở trên. Thủ Tướng Lý
Quang Diệu của Singapore cũng cho rằng "Những bài thuyết giảng về
nhân quyền chỉ là những vận dụng của thái độ kiêu căng Tây phương,
sẽ không có ảnh hưởng gì đến Bắc Kinh" (Newsweek, Nov. 29, 1993:
"Human-rights lectures, says Lee, are exercices in Western arrogance that will not
influence Beijing."); và Thủ Tướng Nhật Hosokawa cũng tuyên bố "Những
quan niệm về nhân quyền của Tây Phương không thể áp dụng một cách mù
quáng vào Á Châu" (New York Times, May 2, 1994: Japan’s Prime Minister
Hosokawa: "Western human rights concepts could not be "blindly applied" to
Asia")
Trong cuộc Hội Nghị Quốc Tế Nhân Quyền ở Vienna năm
1993 mà kết quả một thất bại lớn cho Mỹ và Tây phương, Bilahar
Kausikan, một viên chức cao cấp trong bộ ngoại giao Singapore, đã phát biểu:
"Lần đầu tiên từ khi bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền được
chấp nhận vào năm 1948, những quốc gia không hoàn toàn đắm mình trong những
truyền thống Do Thái – Ki Tô và qui luật thiên nhiên (của Thần
Ki-Tô. TCN) được đứng lên hàng đầu; tình trạng chưa từng có đó sẽ
định nghĩa chính trị thế giới mới về nhân quyền." (Newsweek,
Ibid.: "For the first time since the Universal Declaration of Human Rights was
adopted in 1948, countries not thoroughly steeped in the Judeo-Christian and natural-law
traditions are in the first rank: that unprecedented situation will define the new
international politics of human rights.). Điều này có nghĩa là ngày nay, nhiều
quốc gia không còn thuộc quyền thống trị của thế giới Tây phương, cho
nên những quan niệm về nhân quyền của Tây phương không còn khả năng để
áp đặt trên toàn thể thế giới. Tưởng chúng ta cũng nên biết, hai
tháng trước Hội Nghị Vienna, những quốc gia Á Châu đã họp ở Bangkok
và chấp thuận một bản tuyên ngôn nhấn mạnh rằng nhân quyền phải được
xét đến "trong bối cảnh của những cá biệt quốc gia và địa
phương, và những nền tảng lịch sử văn hóa tôn giáo khác nhau"
(human rights must be considered in the context of national and regional particularities
and various historical religious and cultural backgrounds), và rằng "theo dõi
vấn đề nhân quyền là vi phạm chủ quyền quốc gia" (that human
rights monitoring violated state sovereignty) và sau cùng "viện trợ kinh tế
với điều kiện, dựa trên tiêu chuẩn nhân quyền là đối ngược với
quyền phát triển" (and that conditioning economic assistance on human rights
performance was contrary to the right of development).
Thật vậy, Đông và Tây có những quan niệm về nhân quyền
khác hẳn nhau. Căn bản quan niệm về nhân quyền của Tây phương xuất phát
từ truyền thống tôn giáo Tây phương: quyền của con người là do đấng
sáng tạo phú cho (rights are endowed by a Creator). Vì thế trong các xã hội
Tây phương, những quyền cá nhân (đều do con người định ra và cho rằng
đó là quyền của đấng sáng tạo ban cho) phải được tôn trọng và
không được vi phạm, bất kể bối cảnh xã hội mà cá nhân đang sống
trong đó là như thế nào. Nhưng đây cũng chỉ là lý thuyết. Các cường
quốc Âu Mỹ có thể phần nào, phần nào thôi, tôn trọng nhân quyền trong
các nước của họ và theo quan niệm về nhân quyền của họ, nhưng có bao
giờ tôn trọng nhân quyền trong các nước nhỏ yếu, đang phát triển đâu.
Lịch sử thế giới đã chứng tỏ như vậy. Quan niệm nhân quyền của Á
Đông đặt căn bản trên sự kiện là con người không phải là một thực
thể riêng biệt, mà có liên hệ tới toàn thể cộng đồng. Do đó, Á Đông
đặt quyền lợi của cộng đồng trên quyền của cá nhân. Các xã hội
Tây phương đặt nặng chủ nghĩa cá nhân và quyền tự do cá nhân (Western
societies emphasize individualism and personal freedom), trong khi các nền văn hóa Á
Đông đặt giá trị của sự tự kiểm và trật tự xã hội cao hơn quyền
của cá nhân. (Asian cultures place a higher value on self-discipline and order.) Người
Tây phương có thể coi tự do ngôn luận là một quyền công dân căn bản,
trong khi người Á Đông có thể xét đến ảnh hưởng của sự tự do này,
trong một số trường hợp đặc biệt trong bối cảnh xã hội, và coi đó
là gây sự hỗn loạn trong xã hội, do đó có phương hại đến sự ổn định
xã hội, ngăn cản sự phát triển kinh tế v..v..
Tại sao Á Đông không chấp nhận quan niệm về nhân quyền
của Tây phương? Ngoài những bất đồng về văn hóa, xã hội, nhân sinh
v..v.. giữa những nền văn minh khác nhau, Á Đông còn coi sách lược lưỡng
chuẩn (double standard) về nhân quyền của Tây phương như là một sự áp
đặt để đạt những mục đích kinh tế, tôn giáo. Tây phương, với bản
chất đế quốc, chưa bao giờ tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên
thế giới. Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, đã viết: "Thật
ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không
liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một
bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương" (James Speck, Editor, The
Chomsky Reader, p. 331: U.S. foreign policy is in fact based on the principle that
human rights are irrelevant, but that improving the climate for foreign business
operations is highly relevant.)
Muốn hiểu rõ vấn đề nhân quyền trong cộng đồng thế
giới có lẽ chúng ta không thể nào bỏ qua cuốn Sự Xung Đột Giữa Các
Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới (The Clash of
Civilizations and the Remaking of World Order) của Samuel P. Huntington. Huntington là
một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết
trong tập san Foreign Affairs. Uy tín của Huntington không ai có thể phủ
nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện
Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu
Các Địa Phương Trên Thế Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch
An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ
Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ. Những điều tôi viết sau đây là dựa
vào tài liệu trong cuốn sách trên của giáo sư Huntington cũng như những tài
liệu, tin tức trên báo chí, TV.
Vào đầu thế kỷ 20, vị thế của Tây phương bao trùm thế
giới, tạo nên một tâm cảnh chung trong thế giới Tây phương là "văn
minh thế giới là văn minh Tây phương, luật quốc tế là luật Tây phương".
Sự bành trướng của Tây phương trên thế giới từ thế kỷ 16 là dựa
trên sự phát triển kỹ thuật: kỹ thuật hàng hải để đi tới các nơi
xa xôi, và kỹ thuật vũ khí để chiến thắng quân sự v..v.."Tây phương
thắng trên thế giới không phải là vì sự ưu việt của những ý tưởng,
hoặc giá trị, hoặc tôn giáo Tây phương mà là ưu thế trong sự áp dụng
bạo lực một cách có tổ chức." (Huntington, Ibid., p. 51: The West won
the world not by the superiority of its ideas or values or religion but rather by its
superiority in applying organized violence). Người Tây phương thường quên đi sự
kiện này; người các nước khác, nhất là các nước đã một thời bị
Tây phương đô hộ, không bao giờ quên. Thật vậy, Tây phương là nơi sản
xuất ra nhiều lý tưởng xã hội như tự do, phát xít, dân chủ theo quan niệm
Ki Tô (Christian democracy), dân chủ xã hội (social democracy), đoàn thể, kinh
tế tự do v..v.. nhưng Tây phương chưa bao giờ có được một tôn giáo
lớn (theo nghĩa là chủ lực tinh thần hướng dẫn đạo đức và tính
thiện của con người. TCN). Những tôn giáo lớn trên hoàn cầu không phải
là sản phẩm của Tây phương mà là của những nền văn minh ngoài Tây phương,
và trong hầu hết các trường hợp, đã có trước nền văn minh Tây phương.
(Huntington, Ibid., p. 54: The West, however, has never generated a major religion. The
great religions of the world are all products of non-Western civilizations and, in most
cases, antedate Western civilization). So sánh giáo lý, lịch sử Ki Tô Giáo
(Chính Thống, Gia Tô, Tin Lành) với các tôn giáo Á Đông như Thích, Nho,
Lão và Ấn Giáo, chúng ta thấy rõ ngay điều này.
Chủ thuyết Mác-Xít là một sản phẩm của Tây phương.
Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh áp dụng chủ thuyết này trong những
hoàn cảnh đặc biệt của mỗi quốc gia để đương đầu với Tây phương,
động viên quần chúng chống nô lệ và bất công xã hội, khẳng định
tinh thần quốc gia, nền độc lập và quyền tự quyết của quốc gia. Năm
1989, bức tường Bá Linh sụp đổ, kéo theo chủ thuyết Mác, nhưng điều này
không có nghĩa là Trung Hoa và Việt Nam sẽ chấp nhận những quan niệm về
dân chủ, nhân quyền và tự do của Tây phương. Sau khi dùng nó để đạt
được những mục đích ưu tiên hàng đầu như nền độc lập, quyền tự
quyết quốc gia v..v.., chủ thuyết Mác sẽ dần dần được gói ghém trả
lại cho Tây phương. Trung Hoa và Việt Nam đều đang trên con đường trở về
với những truyền thống dân tộc, dù ngoài mặt vẫn còn trang trí bằng
cái vỏ Mác-Xít. Quan sát kỹ và theo dõi những biến chuyển trong xã hội
Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta thấy rõ điều này. Tượng Lenin còn đó, nhưng
đường lối CS của Lenin chỉ còn là vang bóng một thời. Hình Mao Trạch
Đông vẫn còn trên quảng trường Thiên An Môn, nhưng tư tưởng Mao Trạch
Đông đã được xếp vào kho đồ cổ. Ngày nay, chẳng còn ai buồn nhắc tới
tên của Stalin, đừng nói đến chuyện áp dụng đường lối của ông ta.
Ông Nguyễn Văn Thiệu có một câu nói để đời: "Đừng tin những
gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm." Câu
này ngày nay vẫn còn có thể áp dụng được, nhưng theo một nghĩa khác,
và không chỉ dành riêng cho CS, vì chúng ta có thể thay thế từ CS bằng những
từ như Tư Bản, Quốc Gia, Ca-Tô, Tin Lành mà không sợ sai.
Trong những thập niên 1970, 1980, hơn 30 quốc gia trên thế
giới chuyển từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ. Nguyên nhân
chính là do sự phát triển kinh tế. Trong số những quốc gia này chúng ta
có thể kể Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, một số nước ở châu Mỹ La-Tinh,
Phi Luật Tân, Nam Hàn, Đài Loan v..v.. Không có một quốc gia nào trong những
quốc gia trên chịu nạn chiến tranh như Việt Nam, không có một quốc gia
nào trong đó người dân có tâm cảnh thù hận Quốc Cộng do ngoại bang tạo
nên. Tuy vậy, tiến trình dân chủ của những quốc gia này cũng phải trải
qua một thời gian dài nhiều năm đầy sóng gió. Một nền dân chủ thực sự
tùy thuộc rất nhiều yếu tố. Những yếu tố chính có thể nói là nền
kinh tế quốc gia, sự ổn định xã hội, trình độ dân trí, ý thức
trách nhiệm của người dân qua nền giáo dục đại chúng. Trong bài phỏng
vấn của đài Little Saigon Radio, nhà văn Dương Thu Hương cũng phải công nhận
là vấn đề tự do, dân chủ "cần phải có thời gian, không thể đốt
cháy giai đoạn được".
Sự sụp đổ của chủ thuyết Cộng Sản vào năm 1989 cộng
với sự chuyển từ độc tài sang dân chủ của nhiều quốc gia đã tạo
cho thế giới Tây phương, nhất là Mỹ, niềm tin rằng cuộc cách mạng
dân chủ toàn cầu đang diễn biến, và chẳng bao lâu những quan niệm về
nhân quyền cũng như những dạng thức chính trị dân chủ của Tây phương
sẽ phải được áp dụng trên toàn thể thế giới. Do đó, sách lược dân
chủ hóa toàn cầu, theo quan niệm của Tây phương, là sách lược được xếp
vào loại ưu tiên hàng đầu của Tây phương. Cho nên vào tháng 4, 1990, ngoại
trưởng James Baker trong chính quyền "Bush cha" tuyên bố: "Sau
thời đại ngăn chận (CS) là dân chủ hóa" và "Tổng Thống
Bush đã hoạch định nhiệm vụ mới của chúng ta là đẩy mạnh và củng
cố dân chủ". Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1992, Bill Clinton
nhắc đi nhắc lại là sách lược dân chủ hóa toàn cầu sẽ là sách lược
ưu tiên số một trong đường lối ngoại giao của chính quyền Clinton. Sau
khi đắc cử tổng thống, Bill Clinton đã đề nghị tăng ngân khoản cho Cơ
Quan Quốc Gia Tài Trợ Cho Dân Chủ (National Endowment for Democracy (NED) thêm
lên hai phần ba. Đây chính là cơ quan đã tài trợ cho tổ chức Quê Mẹ của
ông Võ Văn Ái trong nhiều năm, $90000 năm 1997, $95000 (chín mươi lăm ngàn đô
la) năm 1998, để ông Ái tranh đấu cho "dân chủ" 련sic) và "tự do tôn giáo" (sic) theo quan niệm của
Mỹ ở Việt Nam. Chúng ta nên để ý là, trong bài phỏng vấn của Nguyễn
Sĩ Tiến về bài NQ&TDTG của tôi, ông Võ Văn Ái thanh minh rằng: "NED
là một tổ chức công khai, do Quốc Hội Hoa Kỳ tài trợ và kiểm soát.
Ông ở bên ấy phải biết Quốc Hội Hoa Kỳ không là CIA. Tổ chức này
làm việc minh bạch và thông suốt." Ông Ái đã "lạy ông tôi
ở bụi này" vì trong bài NQ&TDTG tôi không hề viết tổ chức
NED là CIA hay làm việc mờ ám, tôi chỉ viết đó là "một cơ quan Mỹ
chuyên chi tiền cho những tổ chức tay sai để tranh đấu cho nhân quyền
và dân chủ theo quan niệm của Mỹ". Quốc hội Mỹ lấy tiền ở
đâu để điều hành tổ chức này, và Quốc hội Mỹ dùng ngân sách quốc
gia tài trợ cho tổ chức NED là để phục vụ nước Mỹ hay nước Việt
Nam? Ngoài ra, NED không chỉ gây loạn, với mỹ danh là "giúp đỡ những
phong trào dân chủ trong thế giới", trong các nước nhỏ yếu bằng
những quan niệm trừu tượng một chiều về nhân quyền và dân chủ, mà
còn có mục đích đẩy mạnh sách lược kinh tế toàn cầu, mang lợi đến
cho nước Mỹ. Tổng Thống Clinton phát biểu, tháng 4, 1997: "Qua những
cố gắng hàng ngày, tổ chức NED đã cung cấp những bằng chứng mới mẻ
về tính phổ quát của lý tưởng dân chủ và cho những lợi nhuận của
quốc gia chúng ta..." (Through its everyday efforts, the Endowment provides
renewed evidence of the the universality of the democratic ideal and of the benefits to
our nation..) Ông Ái còn nói: "Các cơ quan tài trợ quốc tế chẳng
bao giờ đặt điều kiện... Mà có đặt điều kiện tôi cũng bác bỏ,
lánh xa." Ông nói như vậy để cho ai nghe? Muốn xin tiền của NED
ông phải đệ trình một bản đề nghị (proposal) trình bày chi tiết ông sẽ
dùng số tiền đó cho những hoạt động nào, có phù hợp với những tiêu
chuẩn (điều kiện) do NED đặt ra hay không? Không phù hợp thì họ đâu
có cho tiền. NED không bao giờ tự nhiên nghe đến đại danh của ông, mời
ông đến cúng dường một năm 95 ngàn đô-la cho ông để ông muốn làm gì
thì làm. Trong bài NQ&TDTG tôi đã nêu ra nhiệm vụ NED đề ra cho
Quê Mẹ của ông Ái là "tung ra những bản tin ngắn về những quan
tâm cấp bách về nhân quyền để phổ biến cho quần chúng"
(issuing mini-bulletins on urgent human rights concerns for mass distribution) và "phổ
biến tin tức về sự đàn áp trên bình diện rộng lớn những hoạt động
viên Phật Giáo tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền"
(publicizing the widespread repression of Buddhist activists for religious freedom and
human rights). Ông nói đúng, đây không phải là những điều kiện mà là những
chỉ thị của NED để ông theo đó mà hoạt động cho những mục đích đã
quá rõ ràng của NED, vì sự thực có vấn đề cấp bách nhân quyền hay đàn
áp sâu rộng ở Việt Nam hay không, hay đó chỉ là những bình phong tạo
áp lực cho những mục đích khác? Mỗi năm có mấy trăm ngàn người về
thăm quê hương, họ đều biết rõ vấn đề chứ họ không tin những điều
tưởng tượng của những người ngồi ở Paris hay Bolsa. Và tại sao NED lại
chỉ chú trọng đến sự đàn áp Phật Giáo? Ông Ái cũng khẳng định là
ông không hề lĩnh lương của Mỹ, ông lao động tốt và bỏ tiền túi ra
làm việc chùa, tranh đấu cho nền dân chủ và bảo vệ Quyền làm Người
Việt Nam, làm như hơn 70 triệu người Việt Nam hiện nay không phải là người
(Nguyên văn: Làm gì có lương! Khắp trong thế giới, cũng như tại Pháp,
quy chế các hội đoàn hoạt động theo mục tiêu không lợi lộc, thì từ
vị chủ tịch đến toàn ban trị sự không được quyền ăn lương. Cơ sở
Quê Mẹ nằm trong quy chế ấy. Tôi cũng như tất cả các bằng hữu điều
hành cơ sở Quê Mẹ, Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam, đều thiện
nguyện, không ai có đồng lương nào. Chúng tôi lao động sinh sống nuôi
thân như mọi người...Tiền túi đổ ra hoạt động thì có, và thường
xuyên, làm chi có lương). Ông Ái hơi coi thường độc giả, tưởng ai
cũng có đầu óc thuộc loại Nguyễn Sĩ Tiến, dễ lừa bịp, vì người có
đôi chút hiểu biết đều hiểu rõ rằng các hội thiện nguyện hoạt
động theo mục tiêu không lợi lộc (non-profit organizations) đều dùng tới
hơn 1/3 ngân sách, có khi lên tới 45%, để chi phí cho những dịch vụ điều
hành hành chánh trong đó có lương của các chủ tịch, giám đốc, nhân
viên, nhân tình (dưới danh nghĩa phó v..v..), và sự gian lận trong những
phúc trình kết quả là điều khó có thể kiểm soát, chẳng hạn như
"có ít thì xít ra nhiều", hay "làm láo báo cáo hay để ăn tiền"
v..v.. Ông Ái cũng không cho độc giả rõ ông đã lao động như thế nào,
ở đâu, và lương lậu bao nhiêu, dùng bao nhiêu phần trăm cho công việc
"vác ngà voi" của ông, những chi tiết thuộc loại "cấm ngoại
thủy không ai được biết" nhưng lại rất cần thiết cho độc giả
để họ có thể đánh giá đúng mức con người của ông. Giới trí thức
ở Pháp đánh giá con người của ông Ái ra sao, họ đã cho tôi biết trong
chuyến Tây Du năm 1999, chỉ là tôi không tiện nhắc lại mà thôi. Họ chỉ
khen ông có một điều, đó là ông rất giỏi về nghệ thuật "mồm miệng
đỡ chân tay".
Tôi không phản đối việc ông Ái tranh đấu cho dân chủ
và tự do ở Việt Nam. Rất có thể tôi còn ủng hộ cuộc tranh đấu của
ông là đằng khác, nếu ông thông minh hơn một chút, đừng tung ra những bản
văn chống Cộng kém cỏi, rẻ tiền, chứa đầy mâu thuẫn, có tính cách mạ
lỵ đầu óc giới trí thức hải ngoại như những bản "Phúc
Trình", "Nhận Định" v..v.., nếu ông đừng phịa ra những thông
tin bịa đặt để huyễn hoặc mấy Thầy vốn không rành chuyện thế sự,
phóng đại sự việc, và nhất là, nếu ông học được bài học sau đây
của lãnh tụ phe chống đối ở Cuba: Elizardo Sanchez.
Báo Chicago Tribune ngày 22 tháng 5, 2001, đăng tin: Lãnh tụ
phe chống đối ở Cuba Elizardo Sanchez từ chối không nhận tiền của Mỹ
trợ giúp những hoạt động chống đối của ông. Ông ta nói, nhận thức
về việc nằm trong sổ lương của Mỹ thì tín nhiệm đặt trên ông không
còn nữa. Cũng như mọi tài trợ từ bên ngoài chỉ làm cho Castro có cớ để
xiết chặt gọng kìm trên các nhóm chống đối. Sự hỗ trợ cho phong trào
Đoàn Kết ở Ba-Lan chỉ có sau khi Lech Walesa đã tự mình tạo được vị
thế lãnh tụ đối lập và hàng chục ngàn người đã gia nhập nghiệp đoàn
độc lập của ông ta. Tiền của Mỹ không tạo nên phong trào Đoàn Kết
và phần chắc là không thể gây nên một phong trào đối lập ở Cuba hay
ở bất cứ nơi nào khác (In Cuba, leading dissident figure Elizardo Sanchez
already said "No thanks!" to American money. The perception of being on the
payroll of the U.S., he said, would be the end of his credibility. Any outside subsidies
also would only give Castro a ready-made justification to tighten the vise around any
dissent groups. American support for Poland’s Solidarity movement came after Lech Walesa
had already established himself as an opposition leader and tens of thousands had joined
his independent union. U.S. money did not create Solidarity and it’s not likely to
ignite an opposition movement in Cuba or anywhere else.)
Đây không những là bài học vỡ lòng cho ông Võ Văn Ái
mà còn là bài học cho bất cứ hội đoàn, cá nhân nào muốn dựa hơi ngoại
quốc để tranh đấu cho tự do và nhân quyền ở Việt Nam. Một bài học
khác rõ ràng và đi thẳng vào chủ đề hơn là của Giáo sư sử học Nguyễn
Mạnh Quang, trong cuốn sách mới Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, với
nhận định rất đúng sau đây:
"Đa số người Việt
lưu vong có thể không đồng ý với một chế độ độc tài chính trị, mức
độ tham nhũng, chính sách giáo dục yếu kém ở Việt Nam. Nhưng điều này
không có nghĩa là họ sẽ mù quáng ủng hộ bất cứ một lực lượng nào,
thường là hữu danh vô thực, nhờ thế lực ngoại quốc, thế tục cũng
như tôn giáo, để khuynh đảo chủ quyền đất nước của họ."
Có một số người, ở trong nước cũng như ở hải ngoại,
dựa vào những thông tin lừa dối, tin rằng có thể nhờ vào thế lực của
Mỹ, với vị thế bá chủ hoàn cầu ngày nay về kinh tế và quân sự, cũng
như vị thế tiến bộ của một số cường quốc Âu Châu, dùng chiêu bài
tự do dân chủ và nhân quyền để ép Việt Nam phải thay đổi theo ý họ.
Họ không nghiên cứu kỹ vấn đề, Tây phương trong thời đại này không
còn ở vị thế có thể áp đặt những quan niệm về dân chủ, nhân quyền
của họ trên các nước khác. Đông phương đang vươn lên, tìm lại những
giá trị truyền thống của mình và chứng tỏ rằng những giá trị này vượt
trên những giá trị về xã hội và tôn giáo của Tây phương. Đây là một
diễn biến tuy chậm chạp nhưng bất khả đảo ngược (irreversible). Muốn
hiểu điều này chúng ta cần phải lược duyệt lại lịch sử thế giới.
Nền văn minh Âu Châu theo Ki Tô Giáo bắt đầu ló dạng
vào thế kỷ 9 và 10 như là một nền văn minh riêng biệt. Tuy nhiên, trong
nhiều trăm năm, nền văn minh này đứng sau nhiều nền văn minh khác. Trung
Quốc, dưới những triều đại Đường, Tống, và Minh, thế giới Hồi
Giáo từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, và Byzantium từ thế kỷ 8 đến thế
kỷ 11, đều vượt xa Âu Châu về tài sản, đất đai, quân sự, văn hóa,
nghệ thuật và khoa học. Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, nền văn hóa
Tây phương bắt đầu phát triển do sự du nhập một cách có hệ thống những
phần tử từ các nền văn hóa cao hơn như Hồi Giáo và Byzantium. Từ đó
Tây phương bắt đầu phát triển về thương mại, kỹ nghệ và kỹ thuật.
Như trên đã nói, kỹ thuật hàng hải và vũ khí đã giúp cho Tây phương
đi xâm chiếm nhiều nước trên hoàn cầu. Những cuộc thánh chiến và những
tòa hình án của giáo hội Ca-Tô đã đưa Âu Châu vào thời đại đen tối,
trong đó hầu như toàn thể Âu Châu đều bị cưỡng bách phải theo Ca Tô
Giáo. Trong thời đại này thần quyền Ca-Tô và thế quyền Ceasar (quân chủ
chuyên chế) liên kết với nhau rất chặt chẽ, nếu không muốn nói là thần
quyền thường tự cho mình vị thế đứng trên thế quyền. Thí dụ, sau
khi tra tấn để bắt những kẻ "dị giáo" phải "thú tội",
các linh mục và giám mục Ca-Tô bèn tổ chức một lễ công cộng gọi là
"auto da fé", nhân danh thần quyền tuyên án tội nhân, rồi trao cho
thế quyền mang tội nhân đi thiêu sống, như vậy bàn tay của các linh mục
và giám mục vẫn sạch, không trực tiếp nhúng tay vào máu hoặc việc giết
người. Năm 1452, giáo hoàng Nicholas V ban sắc lệnh Dum Diversas nội dung như
sau:
"Bằng vào những văn kiện này, chúng tôi, với quyền
hành của các tông đồ, cho các ngươi (Vua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) được
toàn quyền và tự do xâm lăng, lục xoát, bắt giam, và chinh phục dân
Sacarens và dân ngoại đạo, và bất cứ người không tin Chúa hay kẻ thù
nào khác của Chúa Ki Tô bất cứ ở nơi nào, cũng như đất nước, địa
phận, hạt, công quốc, và mọi tài sản của chúng và bắt chúng làm nô lệ
vĩnh viễn." ( Maureen Fiedler and Linda Rabben, Rome Has Spoken, p. 82:
Nicholas V, Dum Diversas, 1452/54: We grant to you (Kings of Spain and Portugal) by these
present documents, with our Apostolic Authority, full and free permission to invade,
search out, capture, and subjugate the Sacarens and pagans and any other unbelievers and
enemies of Christ wherever they may be, as well as their kingdoms, duchies, counties,
principalities, and other property..and to reduce their persons into perpetual slavery.)
Sau đó giáo hoàng Calixtus III xác định lại sắc lệnh này
năm 1456, giáo hoàng Sixtus IV nhắc lại sắc lệnh năm 1481, năm 1493 giáo
hoàng Alexander VI mở rộng địa hạt xâm lăng trên khắp thế giới, từ
Phi Châu đến Mỹ Châu, và giáo hoàng Leo X cũng ban lại sắc lệnh này năm
1514 (Context: Pope Calixtus III confirmed this decree in 1456. Sixtus IV renewed it in
1481. Alexander VI extended it from Africa to America in 1493, and Leo X renewed it in
1514.) Chúng ta cũng biết rằng, "vào cuối thế kỷ 15, năm 1493, giáo
hoàng Alexander VI, tự cho Ca-Tô Giáo quyền thống trị hoàn cầu, đã chia thế
giới ra làm hai vùng ảnh hưởng: 1) toàn thể Mỹ Châu, trừ Ba-Tây
(Brazil), thuộc Tây Ban Nha; 2) còn Bồ Đào Nha thì được Ba-Tây và tất cả
những đất đai nào chiếm được ở Á Châu và Phi Châu. Sắc lệnh phân
chia vùng ảnh hưởng này quy định rằng, song song với việc chiếm cứ đất
đai là bổn phận phải cải đạo các dân địa phương vào Ca-Tô giáo. Do
đó, đi cùng với những đoàn quân xâm lăng là những linh mục. Sự có mặt
của giới linh mục đã biện minh cho những hành động áp chế dân địa
phương cũng như bất cứ thủ đoạn cưỡng ép nào được coi là cần thiết
để kéo họ vào đức tin Ca-Tô" (Trần Chung Ngọc, Công Giáo
Chính Sử, trg. 157: Pettifer, Julian & Bradley, Richard, Missionaries,
BBC Books, London, 1990, p. 132-133: By the end of the 15th century, (1493),
Pope Alexander VI created two spheres of influence; he determined that the whole of the
Americas with the exception of Brazil, should belong to Spain, while Portugal would take
Brazil and whatever could be seized in Asia and Africa. It was decreed that along with
territorial gains whould go the duty to incorporate any native peoples into the Catholic
Church..With the invading armies came priests and friars whose presence justified the
subjugation of the people and the use of whatever coercion was judged necessary to bring
them to the faith.)
Từ những sự kiện lịch sử trên, giáo sư Huntington đã
viết: "..và trong thế kỷ 16 Tây phương đã đi chinh phục thế giới
cho Chúa và để cướp vàng." (Huntington, Ibid., p. 70: ..and it was for
God as well as for gold that Westerners went out to conquer the world in the sixteenth
century). Không đọc lịch sử hay cố ý xuyên tạc lịch sử nên ông Nguyễn
Gia Kiểng trong nhóm Thông Luận đã viết trong cuốn sách có cái tên quái gở
Tổ Quốc Ăn Năn, trang 190, là "Không làm gì có chủ ý chính
trị của các nước Âu Châu (và Pháp nói riêng) để chiếm đóng các nước
Châu Á.", việc xâm chiếm chỉ do các công ty thương mại chủ
trương, để chạy tội cho "mẫu quốc Pháp" và vai trò "truyền
giáo cho Chúa và cho vàng" của các thừa sai Ca-Tô. Nếu ông Kiểng đã
đi đến Lisbon ở Bồ Đào Nha thì sẽ thấy trên mặt đất, gần đài kỷ
niệm Henri The Navigator, người dẫn đầu đoàn con buôn, linh mục, binh lính
đi xâm chiếm các nước khác, có vẽ bản đồ thế giới và ghi những nơi
mà Bồ Đào Nha đã xâm chiếm làm thuộc địa.
Trong vòng 250 năm, từ 1500 đến 1750, hầu hết Tây bán cầu
và một phần Á Châu thuộc quyền thống trị của Âu châu. Cho đến hậu
bán thế kỷ 19 thì đế quốc Tây phương đã thống trị hầu như toàn thể
Phi Châu, và củng cố quyền hành ở Á Châu, và đến đầu thế kỷ 20 thì
cả miền Trung Đông, trừ Thổ Nhĩ Kỳ, đều nằm trong vòng kiểm soát hoặc
trực tiếp hoặc gián tiếp của Tây phương.
Tuy nhiên, trong thế kỷ 20, tình hình thế giới đã thay đổi
nhiều. Trước đây, quyền lực của Tây phương đối với các thuộc địa,
và quyền bá chủ của Mỹ trong thế kỷ 20, sau đệ nhị thế chiến, đã
có tác dụng bành trướng nền văn hóa Tây phương trên khắp thế giới.
Nhưng rồi chế độ thuộc địa chấm dứt. Quyền bá chủ của Mỹ đang
suy thoái, nhất là sau cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Những nền văn hóa
khác Tây phương đang phục hồi mạnh mẽ. Hai cuộc Thế Chiến đều xảy
ra ở Tây phương, các cuộc chiến tranh tôn giáo cũng đều xảy ra ở Tây
phương, vật chất đè bẹp đạo đức, tội ác lan tràn, đạo đức của
giới chăn chiên suy sụp v..v... Những sự kiện này cho người Á Đông thấy
rõ sự băng hoại và thất bại của những chủ lực tinh thần ở Tây phương,
và những giá trị Tây phương không còn hấp dẫn.
Ba trường hợp điển hình của ba lãnh tụ Á Châu có thể
cho chúng ta thấy rõ vấn đề. Cả ba đều là những sinh viên xuất sắc
nhất, tốt nghiệp từ các đại học nổi danh Tây phương. Đó là Mohammad
Ali Jinnah tại đại học Oxford, Harry Lee tại đại học Cambridge, và Solomon
Bandaranaike tại đại học Lincoln’s Inn. Bandaranaike là một tín đồ Ki Tô
Giáo. Cả ba đều được coi như là thuộc thành phần ưu tú đã hoàn toàn
bị Tây phương hóa (thouroughly Westernized) trong những xã hội của họ. Nhưng
khi đưa quốc gia đến độc lập và sau khi độc lập, họ đều trở về
với những nền văn hóa tổ tiên, thay đổi tên họ, y phục, và tín ngưỡng.
Luật sư nổi tiếng tốt nghiệp tại Anh quốc Mohammad Ali Jinnah trở thành
Quiad-i-Azam của Pakistan và là một tín đồ nồng nhiệt của Hồi Giáo.
Harry Lee trở thành Lý Quang Diệu của Singapore và là người đẩy mạnh sự
phục hồi Khổng Giáo cùng lúc ngăn chận sự bành trướng của Ki Tô
Giáo. Tín đồ Ki-Tô Bandaranaike bỏ Ki-Tô giáo theo Phật Giáo và đẩy mạnh
tinh thần quốc gia của Sri Lanka. Tại sao lại có những hiện tượng như vậy.
Giáo sư Huntington giải thích:
Vì quyền lực Tây phương suy thoái, khả năng áp đặt những
quan niệm về nhân quyền, tự do, và dân chủ của Tây phương trên các nền
văn minh khác cũng như sự hấp dẫn của những giá trị Tây phương cũng
suy thoái theo. Điều này đả xảy ra (Huntington, Ibid., p. 92: As Western
power declines, the ability of the West to impose Western concepts of human rights,
liberalism, and democracy on other civilizations also declines and so does the
attractiveness of those values to other civilizations. It already has...)
Trong vài thế kỷ, Đông phương ngưỡng mộ sự phát triển
kinh tế và kỹ thuật của Tây phương. Nhưng trong những thập niên cuối
thế kỷ 20, Đông phương đã tìm ra phương sách phát triển kinh tế và kỹ
thuật của chính mình mà không cần phải du nhập văn hóa Tây phương.
Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Nam Dương
đều cho rằng nguyên nhân sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế của họ
là ở nền văn hóa của họ chứ không phải là nền văn hóa Tây phương. Họ
thành công là vì họ khác với Tây phương... Những giá trị Tây phương đã
bị loại bỏ theo nhiều cách, nhưng không kém cương quyết, ở Mã Lai, Nam
Dương, Singapore, Trung Quốc và Nhật Bản. (Huntington, Ibid., p. 93: East
Asians attribute their dramatic economic development not to their import of Western
culture but rather to their adherence to their own culture. They are succeeding, they
argue, because they are different from the West... Western values are rejected in
different ways, but no less firmly, in Malaysia, Indonesia, Singapore, China, and Japan).
Với sự vuơn lên của Á Đông, thời đại mà "Hoa Kỳ hắt hơi Á Đông
bị cảm" đã qua (The days when the US sneezed and Asia caught cold are over) ,
và theo một lãnh tụ Á Đông thì ngày nay "ngay cả một cơn sốt nặng
ở Mỹ cũng không làm cho Á Châu ho" (even a high fever in America will not
make Asia cough).
Bài viết này không có mục đích bàn về vấn đề kinh tế
và hiện tượng chuyển quyền lực từ Tây sang Đông (shift of power from West
to East) cho nên tôi xin trở lại vấn đề nhân quyền.
Tây phương nắm trong tay những tổ chức kinh tế quốc tế
như Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF), Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) v..v.. và
dùng những tổ chức này dưới hình thức cho vay hay viện trợ, thường là
với điều kiện theo những tiêu chuẩn về nhân quyền, dân chủ Tây phương
đặt ra, tạo áp lực với các nước đang phát triển. Cho tới nay, sách lược
trên không đạt được mấy kết quả. Hầu như mọi nền văn hóa phi-Tây
phương (non-Western) đều chống lại áp lực này. Các nền văn hóa này gồm
có Ấn độ, Phi Châu và ngay cả một số nước ở Châu Mỹ La-Tinh. Sự chống
đối mạnh mẽ nhất trước những áp lực về nhân quyền và dân chủ của
Tây phương là từ khối Hồi giáo và Trung Quốc. "Sự thất bại của
Hoa Kỳ đối với Á Châu là phó sản của sự phát triển kinh tế và kỹ
thuật ở Á Châu. Ngày nay, Á Châu đã tự tin và luôn luôn nhắc cho Tây phương
nhớ rằng, sự thua kém ngày xưa của Á Châu đã qua, và rằng Tây phương
mà năm 1940 sản xuất ra một nửa sản phẩm kinh tế thế giới, thống trị
Liên Hiệp Quốc, và viết bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền đã tan biến
vào lịch sử." (The failures of the US with respect to Asia stemmed primarily
from the increasing economic wealth and self-confidence of Asian governments. Asian
publicists repeatedly reminded the West that the old age of dependence and subordination
was past and that the West which produced half the world’s economic product in 1940,
dominated the United Nations, and wrote the Universal Declaration on Human Rights had
disappeared into history). Một viên chức Singapore phát biểu: "Những cố
gắng đẩy mạnh nhân quyền ở Á Châu phải được nhận thức trong khuôn
khổ sự phân phối quyền lực trên thế giới đã thay đổi từ sau cuộc
chiến tranh lạnh.. và ảnh hưởng quyền lực của Tây phương trên Đông
Á và Đông Nam Á đã suy giảm nhiều." Việt Nam, với hai cuộc chiến
Đông Dương, đã góp phần không nhỏ cho sự chuyển quyền lực này. Phân
tích vấn đề nhân quyền đối với Á Châu, giáo sư Huntington viết như
sau, trg. 194:
"Trong khi sự thỏa thuận về vấn đề nguyên tử với
Bắc Hàn có thể nói một cách thích hợp là "đầu hàng qua thương
thuyết" (negotiated surrender), sự đầu hàng của Hoa Kỳ về vấn đề
nhân quyền đối với Trung Quốc và các thế lực khác ở Á Châu là một
sự "đầu hàng vô điều kiện" (unconditional surrender). Sau khi đe dọa
Trung Quốc là sẽ rút bỏ quy chế Tối Huệ Quốc nếu Trung Quốc không tiến
bộ về nhân quyền, chính quyền Clinton mới đầu chứng kiến sự bẽ mặt
của ngoại trưởng Warren Christopher tại Bắc Kinh, không có được ngay một
hành động vuốt mặt mũi (denied even a face-saving gesture), rồi đáp ứng bằng
cách từ bỏ chính sách đã đưa ra và tách quy chế Tối Huệ Quốc ra khỏi
vấn đề nhân quyền. Chính quyền Clinton cũng phải rút lui trong việc can
thiệp cho một công dân Mỹ khỏi bị đánh đòn ở Singapore, và bất lực
trước sự đàn áp ở Đông Timor của Indonesia... Chính quyền Nhật Bản thường
không tham dự chính sách về nhân quyền của Mỹ. Sau vụ Thiên An Môn, Thủ
Tướng Nhật Kiichi Miyazawa tuyên bố: "Chúng ta không để cho "những
khái niệm trừu tượng về nhân quyền" (abstract notions of human rights)
ảnh hưởng đến sự giao tiếp của chúng ta với Trung Quốc.""
Nhìn toàn thể, sự tăng trưởng sức mạnh kinh tế của các nước Á Châu
sẽ khiến cho họ phòng ngừa được áp lực của Tây phương về nhân quyền
và dân chủ. Năm 1994, Tổng thống Richard Nixon nhận xét: "Ngày nay, sức
mạnh kinh tế của Trung Quốc làm cho những bài học về nhân quyền của Mỹ
thiếu khôn ngoan. Trong vòng một thập niên, chúng trở thành không thích hợp.
Trong vòng hai thập niên, chúng chỉ làm trò cười cho họ." (Today China’s
economic power, " Richard Nixon observed in 1994, "makes US lectures about human
rights imprudent. Within a decade it will make them irrelevant. Within two decades it will
make them laughable.").. Những nỗ lực của Tây phương trong việc đẩy mạnh
nhân quyền và dân chủ trong các cơ quan của Liên Hiệp Quốc cũng thường
không đi tới một kết quả nào. Trừ vài trường hợp ngoại lệ, như lên
án Iraq, những quyết nghị về nhân quyền luôn luôn bị đánh bại trong những
cuộc bỏ phiếu ở Liên Hiệp Quốc. Trừ vài nước ở Châu Mỹ La-Tinh,
các quốc gia khác đều không chịu ủng hộ cái mà họ coi như là
"chính sách đế quốc sau bình phong nhân quyền" (human rights
imperialism)..."
Giáo sư Huntington nhận định: "Nếu dân chủ có
tới thêm với các quốc gia ở Á Châu, đó là vì các giới tiểu tư sản
và trung lưu càng ngày càng mạnh trong các quốc gia đó muốn như vậy."
(If democracy comes to additional Asian countries it will come because the increasingly
strong Asian bourgeoisies and middle classes want it to come). Điều này cho thấy
quá trình tiến đến dân chủ là do người trong nước muốn vậy chứ không
phải do áp lực bên ngoài.
Theo dõi tình hình quốc tế về nhân quyền chúng ta còn thấy
ảnh hưởng của Mỹ còn suy sụp đến mức tệ hại hơn nữa, và bộ mặt
thực của Mỹ, muốn thống trị LHQ như đã từng thống trị trong vài thập
niên, đã để lộ ra trong biến cố sau đây. Đầu tháng 5, 2001, Liên Hiệp
Quốc đã bỏ phiếu hất Mỹ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Tế trong đó
Mỹ liên tục là một thành viên từ năm 1948, trong khi Trung Quốc, Việt
Nam, Cuba đều được bầu làm thành viên. Điều này làm chính quyền Mỹ nổi
giận và dùng áp lực tiền bạc, giở trò du đãng hăm dọa (bullying) Liên
Hiệp Quốc. Hội Ân Xá Quốc Tế của Hoa Kỳ (Amnesty International USA) lên
án, lẽ dĩ nhiên, sự đuổi Mỹ ra khỏi Ủy Ban Quốc tế Nhân Quyền. Và
Quốc Hội Hoa Kỳ đã bỏ phiếu sẽ không trả Liên Hiệp Quốc số tiền
Hoa Kỳ nợ là 582 triệu đô-la mà Hoa Kỳ hứa sẽ trả trong năm nay, nếu
Liên Hiệp Quốc không theo những điều kiện Hoa Kỳ đặt ra. Những biện
pháp có tính cách hăm dọa du đãng này đã gây nên nhiều phản ứng trong
giới các nhà ngoại giao và bình luận gia. Phần lớn đều cho rằng đó
là những hành động kiêu căng vô lối, thí dụ như lời phát biểu của
dân biểu Tom Lantos ở California: "Điều này (không trả nợ) sẽ dạy
cho các quốc gia một bài học. Nếu họ muốn số tiền nợ này, họ sẽ
phải bỏ phiếu cho Mỹ trở lại Ủy Ban Nhân Quyền" (This will teach
countries a lesson. If they would like to get this payment, they will vote the US back on
the commission). Một nhà ngoại giao Âu Châu ở Liên Hiệp Quốc phê bình: "Cố
đòi cho được loại điều kiện trên, nói thẳng ra, đó là tống tiền"
(To insist on that sort of conditionality – frankly, that’s blackmail, said one
European diplomat at the UN). David Malone, cựu đại sứ tại Liên Hiệp Quốc của
Canada phát biểu: "Liên Hiệp Quốc đã chán ngấy tiến trình nội bộ
của Mỹ về vấn đề trả nợ" (People in the UN system are fairly fed
up with the US domestic process on the payment of dues). Lee Hamilton, một cựu dân biểu
ở Indiana nói: "Từ chối không trả nợ rồi chỉ trả với điều
kiện, Hoa Kỳ đã tạo ra sự bực tức to lớn cho mọi người vì sự kiêu
căng của chúng ta" (The US already created enormous resentment for our
arrogance by refusing to pay its dues and then only doing so with significant conditions
attached).
Dư luận báo chí Mỹ cho thấy người dân cũng lấy gì làm
hãnh diện về những hành động vô lối của chính phủ mình. Mike Giocondo
viết trong tờ Chicago Tribune như sau, với nhan đề: Hoa Kỳ Như Là Kẻ
Đi Hà Hiếp (US As Bully) (theo nghĩa ỷ mạnh hiếp yếu, bất kể đến
luật pháp):
"Trong đời tôi, tôi không thể tin rằng Quốc Hội lại
bỏ phiếu không trả nợ cho LHQ chỉ vì Hoa Kỳ mất đi ghế ngồi trong Ủy
Ban Quốc Tế Nhân Quyền. Trong con giận dữ, Quốc Hội phản ứng và bỏ
phiếu cho biện pháp là chúng ta không nên tiếp tục trả một món tiền nợ
mà chúng ta đã thỏa thuận trả cho cơ quan quốc tế. Thật là đáng buồn
khi phải nói rằng đây không phải là lần đầu tiên Hoa Kỳ đã giữ lại
không trả tiền vì Hoa Kỳ không đồng ý với những hành động của LHQ.
Tôi nghĩ rằng, Hoa Kỳ, như là một quốc gia hội viên, hãy ngưng xử sự
như một đứa trẻ hư, lấy lại trái banh đi về nhà và chỉ chơi lại
khi mọi người khác chơi theo luật của nó... Đâu là một thế giới,
tình lân bang giữa các quốc gia mà LHQ đặt nền tảng trên đó?Có nhiều
đường lối ngoại giao khác mà Hoa Kỳ có thể theo thay vì treo sức toàn năng
của đô-la trên LHQ. Hoa Kỳ, như là một quốc gia lãnh đạo, một lần nữa
lại dùng thái độ của một đứa trẻ chuyên đi hà hiếp bắt nạt làm gương
cho các quốc gia khác khi nó không đồng ý với việc làm của LHQ."
(I can’t for the life of me believe that Congress voted to stop
payment to the UN just because the US lost its seat on the UN Human Rights Commission. In
some fit of anger, Congress reacted and voted that we should not continue to pay an agreed
amount of past-due money to the world body. It is sad to say it is not the first time the
US has held back money because it doesn’t agree with UN actions at times. One would
think the US, as a member nation, would stop behaving like a spoiled child who wants to
take his ball and go home and won’t play until everyone plays by his rules. Where is the
one world, the neighborhood of nations, the UN is founded on?. There are other diplomatic
courses the US can take than hang the almighty dollar over the UN. The US, as the world
leader, once again has set a bully-boy example to other nations when it doesn’t like
what the UN does.)
Một bài khác với cùng một nhan đề "US As Bully" của
Joseph Schumann trên tờ Chicago Tribune cho cho chúng ta thấy tác giả viết:
"Khi mọi người đều nói anh là một cái gì ngu đần,
có hai cách để đối phó. Anh có thể lắng tai nghe với sự tôn trọng và
xét lại những việc của mình, hoặc anh cố bám vào quan điểm của anh và
kết luận rằng mọi người khác đều ngu đần. Khi anh có thể nhìn được
một quan điểm khác, mọi sự đều trở nên tốt đẹp hơn. Khi anh bác bỏ
quan điểm của mọi người khác, anh tự giam anh trong thế kẹt.
Bằng cách bỏ phiếu loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Quốc tế
Nhân Quyền, cộng đồng quốc tế đã nhắc lại cho chúng ta nhiều vấn đề
– từ vấn đề địa cầu ngày càng trở nên nóng hơn, kế hoạch gia đình
và chương trình Star Wars (Hỏa tiễn chống hỏa tiễn từ ngoài địa phận
quốc gia) cho đến sự bao vây Cuba – trong những vấn đề này lập trường
của Hoa Kỳ đứng ngoài lập trường của toàn thể thế giới. Nếu chúng
ta quan tâm và chịu học hỏi, chúng ta có thể trở thành những lãnh đạo
về đạo đức mà chúng ta thường thích tự coi chúng ta như vậy. Nhưng nếu
chúng ta cứ tự bảo chúng ta rằng, bất cứ ai không đồng ý với chúng
ta đều phải ngu đần hoặc xấu xa, thì những kẻ chê bai chúng ta sẽ coi
chúng ta như là loại chuyên đi hà hiếp."
(When everybody says you’re something stupid, there are two ways to
respond. You can listen with respect and rethink things, or you can stick to your story
and conclude that everybody else is stupid. When you can see a different point of view,
things get better. When you dismiss everybody else’s opinion, you stay tuck. By voting
the US off the UN Commission on Human Rights, the International community was reminding us
of the host of the issues – from the global warming, family planning and Star Wars
through the blockade of Cuba – where the US position is out of line with the rest of the
world. If we pay attention and learn, we may become the moral leaders we like to see
ourselves. But if we tell ourselves that anybody who disagrees with us must be ignorant or
wicked, we will instead be the bully our detractor see in us.)
Tom Doody viết một bài dưới nhan đề "Hoa Kỳ đạo
đức giả" (Hypocritical US) một cách khá châm biếm như sau:
"Tôi ăn mừng bài học về dân chủ tuyên bố bởi sự
khôn ngoan và nhìn xa của những cha chú về chính trị của chúng ta (những
người trong Quốc Hội) trong cuộc bỏ phiếu giữ lại không trả nợ LHQ
để phản đối kết quả tuyển chọn của LHQ gần đây đã làm cho Hoa Kỳ
mất những ghế ngồi trong các Ủy Ban về Ma Túy và Nhân Quyền. Tôi đặc
biệt hồ hởi vì hành động này có vẻ như đã đặt ra một tiền lệ vững
chắc không thể chối cãi được là cho phép người dân giữ lại tiền phải
đóng thuế và đe dọa rút ra khỏi chính sách thuế má của nhà nước để
phản đối kết quả bầu cử không làm cho chúng ta hài lòng. Cách đối phó
này của những đại biểu của nền dân chủ của chúng ta, luôn luôn tự
cho là mình đúng, thật là lố bịch. Nó chính là lý do mà nhiều đồng
minh của chúng ta đã bỏ phiếu như vậy để trừng phạt sự kiêu căng và
hành động hà hiếp thế giới của chúng ta. Sự đạo đức giả đã ngự
trị trên miền đất mà những kẻ mị dân thường hay phản ứng và đe dọa
thay vì xem xét nguyên nhân sự bất mãn của thế giới trước thái độ
tham lam và tự tôn của chúng ta."
(I celebrate the lesson in democracy delivered by our wise and
visionary political fathers in voting to withhold United Nations dues to protest the
result of UN elections that recently resulted in the US loosing chairs on narcotics and
human rights committees. I’m particularly excited because this action would seem to set
a strong and undeniable precedent allowing citizens to withhold tax dollars and threaten
withdrawal from the process to protest election results that displease us. This response
by the ever so self-righteous representatives of our democracy is ironic. It soundly
emphasizes the very reason that many of our allies cast such votes to punish our arrogance
and global bullying. Hypocrisy reigns supreme in a land where demagogues would prefer to
react and threaten rather than examine the cause of the world’s displeasure with our
greedy, self-absorbed behavior.)
Và Vince Hayner viết với nhan đề "Những Vi Phạm Của
Hoa Kỳ" ( 蕓 Violations) như sau:
"Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một
bất ngờ cần được hoan nghênh. Trong khi các chính trị gia, ký giả và
dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt chúng ta. Hoa Kỳ
có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền. Ngoài chuyện hàng ngày áp
bức chính dân của mình, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở
các nơi như Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới
trong những xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí
nghiệp Hoa Kỳ, và điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1
triệu dân Iraq trong chiêu bài trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện.
Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu
mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động
không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân quyền của Hoa Kỳ."
(The ejection of the US from the UN Human Rights Committee is a welcome
surprise. While politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is right
in front of us. The US has a horrible human rights record. Besides the daily oppression of
its own citizens, the US continues to violate human rights in place like Vieques with the
US Navy, around the world in sweatshops for US corporations and, perhaps most alarming,
with the killing of more than 1 million Iraqi people via sanctions, just to name a few. It
is hoped that this ejection comes as a sign that the other members of the UN will not
tolerate the consistent unilateral assaults on human dignity by the US.)
Đó là những bộ mặt thực của Mỹ trong vấn đề nhân
quyền, của cái Quốc Hội đã dùng tiền thuế của dân để lập ra cơ
quan NED mà một số tay sai vọng ngoại nấp sau để tranh đấu cho nhân quyền
và dân chủ ở Việt Nam, gieo rắc trong đám quần chúng thấp kém huyền
thoại về ảnh hưởng và sức mạnh của Mỹ và các cơ quan Mỹ lập ra có
thể khuynh đảo được Việt Nam, bắt Việt Nam phải thay đổi theo ý họ.
Sau đây chúng ta hãy xét đến vài điều khoản trong Giao Ước
Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị (The International Covenant on
Civil and Political Rights: The CP Covenant), và Giao Ước Quốc Tế về Những Quyền
Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on Economic, Social, and
Cultural Rights: The ESC Covenant), được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp
thuận ngày 6 tháng 12 năm 1966. Điều khoản 1: các quốc gia hứa sử dụng
tối đa tài nguyên để đạt những tiêu chuẩn về nhân quyền quy định
trong Giao Ước; Điều khoản 7: chính phủ phải trả lương tối thiểu
(minimum wage) và đời sống thoải mái (decent living) cho công nhân; Điều khoản
9: quyền được hưởng phụ cấp an sinh xã hội (social security) và bảo hiểm
xã hội (social insurance); Điều khoản 11: chính phủ phải cung cấp đủ
lương thực, y phục, và nhà ở (require governments to assure adequate food,
clothing and housing); Điều khoản 12 : phải có nền y tế xã hội bắt buộc,
tạo điều kiện để bảo đảm cho mọi người dịch vụ y tế và săn sóc
người dân khi đau ốm (mandates socialized medicine through creation of conditions
which assure to all medical service and medical attention in the event of sickness) (Âu
Châu, Gia Nã Đại và các nước xã hội chủ nghĩa đều áp dụng điều
khoản này, riêng có Hoa Kỳ thì không, vì sự thao túng của bác sĩ đoàn
và các cơ sở bảo hiểm sức khỏe); Điều khoản 13: cho quyền các chính
phủ kiểm soát giáo dục, và dùng các trường học như là các trung tâm dạy
giáo điều thiên Liên Hiệp Quốc, bằng cách khẳng định rằng mọi cơ chế
giáo dục phải đẩy mạnh những hoạt động của Liên Hiệp Quốc..
(Article 13 provides for government control of education, and the use of schools as pro-UN
indoctrination centers, by asserting that all educational institutions must further the
activities of the UN).
Độc giả có thể thấy rõ ý nghĩa của những điều khoản
trên mà tôi không cần phải phê bình để thấy chúng có thể áp dụng
chung cho toàn thể thế giới hay không?.
Vài điều khoản khác cho thấy bản giao ước quốc tế
đưa ra những quyền của con người nhưng rồi với loại ngôn từ tránh
né, mơ hồ có tác dụng làm giảm hiệu lực của chính những điều đã
quy định. Sau đây là vài thí dụ:
Điều Khoản 18
1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tri và tôn giáo..
2. Sự tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của mọi
người chỉ chịu những hạn chế quy định bởi luật pháp và cần thiết
để bảo vệ sự an toàn công cộng, trật tự, sức khỏe, hay đạo đức
hay quyền căn bản và tự do của người khác.
Article 18
1. Everyone shall have the right to freedom of thought, conscience and
religion..
2. Freedom to manifest one’s religion or beliefs may be subject only
to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety,
order, health, or morals or the fundamental rights and freedom of others.
Điều Khoản 19:
1. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu ý kiến..
2. Việc thực thi những quyền quy định trong mục 2 của
điều khoản này đi cùng với những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt.
Nó có thể phải chịu một số hạn chế, nhưng những hạn chế này chỉ
có thể do luật pháp đặt ra.
Article 19
1. Everyone shall have the right to freedom of expression..
2. The exercice of the rights provided for in Paragraph 2 of this
article carries with its special duties and responsibilities. It may therefore be subject
to certain restrictions, but these shall only be such as are provided by law.
Điều khoản 21
1. Công nhận quyền hội họp trong hòa bình
2. Không hạn chế nào được đặt trên sự thực thi quyền
trên ngoài những hạn chế được áp đặt để tuân theo luật pháp.
Article 21.
- The right of peaceful assembly shall be recognized.
- No restriction may be placed on the exercice of this right other than those imposed in
conformity of the law.
Chúng ta thấy ngay rằng, mọi quyền của con người, theo
tinh thần của những bản văn trên, đều phải nằm trong vòng luật pháp của
mỗi nước. Nếu luật pháp của mỗi quốc gia mỗi khác thì định nghĩa về
nhân quyền của mỗi quốc gia cũng mỗi khác. Không có lý do gì để lấy
nền luật pháp của Mỹ hay của bất cứ nước nào để dựa vào đó mà
đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế giới. Ngoài ra, điều khoản
20 trong bản Giao ước lại "đòi hỏi chính quyền phải ra luật ngăn
cấm mọi tuyên truyền cho chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc
gia, sắc dân hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho những
vấn đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực" (Article 20 of the CP
covenant "requires States parties to prohibit by law any propaganda for war and any
advocacy of national, racial or religious hatred that constitutes incitement to
discrimination, hostility or violence..). Điều khoản này là một món quà vô
giá để cho nhiều quốc gia biện minh cho những hành động mà Tây phương
cho là phi dân chủ, phi tự do.
Trên đây, tôi đã phân tích sơ lược tình hình thế giới
ngày nay, sự khác biệt giữa các nền văn hóa Đông Tây, và chiêu bài
Nhân Quyền và Dân Chủ của Tây phương hầu như đã phá sản trước những
diễn biến về kinh tế và xã hội trên thế giới.
Như trên đã nói, Trung Hoa và Việt Nam đang trở về với
những truyền thống dân tộc. Chỉ có những kẻ cận thị nặng mới
không nhìn thấy điều này.
Trong thập niên 1970, ý thức hệ CS đã thất bại, không thể
tạo nên một sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc và Việt Nam, và sự
phát triển kinh tế của Nhật Bản và một số quốc gia khác ở Á Đông
đã làm cho giới lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam phải thay đổi đường
lối, dẹp đi khuôn mẫu Sô Viết mà họ vẫn nhắm mắt theo từ trước.
Nhưng không phải vì vậy mà hai quốc gia này ngả theo Tây phương. Cả hai
đều một mặt gia nhập kinh tế tư bản toàn cầu, một mặt duy trì quyền
lực chính trị trong chiều hướng trở về những truyền thống dân tộc.
Trung quốc thẳng tay dẹp vụ Thiên An Môn một phần lớn vì tượng Nữ Thần
Tự Do của Tây phương chạy nhông nhông ở trên quảng trường. Vào đầu
thế kỷ 20, nhiều người cho rằng nguyên nhân sự lạc hậu của Trung Quốc
là tinh thần Khổng Giáo. Cộng Sản Mao Trạch Đông gọi đức Khổng Tử là
con chó điên lang thang. Cuối thế kỷ 20, ngay từ trong thập niên 1980, Trung
Quốc bắt đầu khôi phục và đẩy mạnh Khổng giáo và tôn vinh Khổng
giáo là cỗi nguồn của sự tiến bộ của Trung Quốc (celebrate Confucianism
as the source of Chinese progress). Khổng giáo cũng là nguồn hứng thú của Lý
Quang Diệu, ông cũng coi Khổng giáo như là cỗi nguồn của sự thành công
của Singapore và ông có cả một chương trình quảng bá giá trị Khổng
giáo trên hoàn cầu. Trong thập niên 1990, chính phủ Đài Loan tuyên bố Đài
Loan kế thừa tư tưởng Khổng giáo và Mạnh Tử. Việt Nam cũng không ra
ngoài lệ, khôi phục tất cả những lễ hội địa phương, đẩy mạnh
phong trào kính trọng Thầy, Cô, đưa ra khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu
học văn" khắp nước, và tôn vinh Chu Văn An, biểu tượng đạo làm Thầy
của dân Việt. Cuốn sách nhỏ "Người Học Trò Áo Xanh", xuất bản
ở Việt Nam, là một tuyệt phẩm viết về "Vạn thế Sư" Chu Văn
An. Xem cuốn băng Video hãng Kim Lợi ở San Jose, California, thực hiện với
chủ đề "Hà Nội 36 Phố Phường" (cuốn I) và "990 Năm Lễ Hội
Thăng Long" (cuốn II) tôi thật không thể tưởng tượng nổi là chính
quyền Việt Nam có thể tổ chức một ngày lễ hội vĩ đại, tưng bừng,
huy hoàng, ngoạn mục như vậy với hàng ngàn diễn viên đủ mặt Nam Phụ
Lão Ấu, và nhất là đầy sắc tính dân tộc. Từ sự tích "Con Rồng
Cháu Tiên", đến khẩu hiệu "Đội Ơn Quốc Tổ Hùng Vương" và
xuyên qua các sự kiện lịch sử như Vua Lý Thái Tổ thấy rồng vàng bay
lên nên đặt tên Thăng Long cho Hà Nội bây giờ, Lê Lợi thắng quân Minh rồi
"hoàn kiếm" cho Rùa Thần, "Hội Nghị Diên Hồng", Trần Hưng
Đạo thắng Nguyên Mông v..v.. tất cả đều được diễn xuất trong những
hoạt cảnh đặc sắc và trong tiếng trống rộn ràng, nhịp nhàng của
"Hội Trống Thăng Long". Tôi cũng không thể tưởng tượng được
là những người con gái Việt Nam trẻ đẹp, duyên dáng ngày nay, từ cô MC
Lê Khanh đến các em thiếu nữ trong những màn múa, màn trống v..v.. lại
là con cháu của một thế hệ đã từng sống trong những hoàn cảnh xã hội
khó khăn nhất, nhưng đã kiên cường chiến đấu để giành lại độc lập
và thống nhất cho Việt Nam. Xem cuốn Video trên, dù cố tình để ý, tôi cũng
chẳng thấy bóng dáng ông Mác ông Lê ở đâu. Tuy không loại bỏ nghi vấn
của vài người bạn là hãng phim Kim Lợi đã cắt xén, bỏ đi những hình
ảnh không thích hợp với người Việt hải ngoại, nhưng tôi tin rằng hai
ông này đã về "bái tổ" ở Đức và Nga từ lâu rồi. Nếu còn
ở Việt Nam có lẽ chỉ còn trên mặt văn tự, loại văn tự chết như tiếng
La-Tinh. Theo ý kiến riêng của tôi, xét về cả hai khía cạnh nội dung và
hình thức, ban tổ chức "990 Năm Lễ Hội Thăng Long" xứng đáng
được 10 huy chương vàng. Chỉ có những người mất gốc mới không cảm
thấy hãnh diện mình là người Việt Nam hay gốc Việt Nam. Đừng có cho
tôi là quảng cáo hay cho "Việt Cộng". Trước khi phản đối ý kiến
của tôi hay vội vàng chụp mũ hãy đi mua cuốn Video đó về coi cho kỹ rồi
hãy tính chuyện phê bình. Tôi bắt buộc phải đồng ý với ông Trần Văn
Chi trong Hoa Sen số 41: "Đồng bào nơi quê nhà nếu có kém chúng ta
là kém cái bụng, nhưng chắc hơn ta về cái đầu.". Một số trí
thức hải ngoại, cho đến ngày nay, vẫn còn huênh hoang cho rằng "Việt
Cộng" ngu dốt, không biết gì. Điều này có thể đúng trong hậu bán
thập niên 1970 và tiền bán thập niên 1980. Nhưng ngày nay thì không còn đúng
nữa, trong nhiều địa hạt họ đã vượt xa những kiến thức cũ kỹ của
lớp người di cư đầu tiên, và lớp trẻ được gửi đi ngoại quốc học
hỏi đầu óc không thua gì con cháu của chúng ta ở hải ngoại.
Tuy ngày nay phần lớn các quốc gia ở Á Châu quay về với
tư tưởng Khổng giáo, nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng tinh thần Khổng
giáo đã theo thời đại mà thay đổi. Á Đông không còn bám vào những điều
không còn hợp với thời đại ngày nay, nhưng nhiều tinh hoa của Nho Giáo
thì không ai có thể phủ nhận. Càng ngày càng có nhiều sách của Tây phương
nghiên cứu về tư tưởng của Khổng tử.
Trong cuốn "Hồn Nước Và Lễ Gia Tiên", trang
318, Linh Mục Lương Kim Định có tường trình một hiên tượng như sau: "Trong
hội nghị quốc tế về triết học họp tại Honolulu năm 1949 thì triết
Nho được đề cao hơn bất cứ triết nào đến nỗi cuối cùng Khổng Tử
được bầu làm nhạc trưởng hướng dẫn cuộc hòa hợp Đông Tây mai
này. Đây là một danh dự tuyệt cao trong thời mới, càng cao hơn nữa khi
triết Tây bị mạt sát thậm tệ, và nặng lời hơn hết lại là các đại
biểu Âu Mỹ. Chỉ có triết Đông gồm Ấn, Thích, Lão, Nho được đề
cao. Riêng Nho được bầu làm đầu đàn cho cuộc tiến tương lai của nhân
loại."
Rồi Linh Mục đặt một câu hỏi: "Thế nhưng tại
sao từ 1949 đến nay (1979) chưa có một phong trào đưa triết Nho lên?"
Nhưng chỉ vài năm sau, Linh mục đã chứng kiến phong trào này được đẩy
mạnh ở nhiều nước Á Châu. Thắc mắc của Linh mục đã được giải đáp.
Nhưng ngày nay, cộng đồng Việt Nam hải ngoại lại đẻ ra một thứ trí
thức ngồi dưới đáy giếng ở Paris, cho rằng văn hóa của Khổng giáo
là "văn hóa vô tổ quốc, chủ trương "tất cả những gì
dính líu đến đến Khổng giáo đều đáng cho vào sọt rác", và "văn
hóa Tây phương là cao nhất" v..v..(Xin đọc bài Từ Thức phê bình
cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của nhà đại trí thức Nguyễn Gia
Kiểng trong Thế Kỷ 21, số 146). Tôi có cảm tưởng là trình độ hiểu biết
của ông Nguyễn Gia Kiểng về Nho học và văn hóa Tây phương thuộc loại
hiểu biết của các thừa sai Ca-Tô trong thế kỷ 19, dẫn đường, đồng hành,
hoặc theo gót thực dân đi "văn minh hóa" Á Châu theo nghĩa tiêu diệt
tất cả những gì không phải là văn hóa Ki-Tô. Cái bánh vẽ trên trời (A
pie-in-the-sky) của nền văn hóa Ki Tô có tác dụng thật là đáng sợ. Chắc
chẳng còn ai nhớ đến một triết gia nổi tiếng của Âu Châu, Heidegger,
người đã phán câu: "Văn Hóa Tây Âu hỏng từ nền tảng, nên truyền
bá đến đâu là gieo máu và nước mắt đến đấy" (Lương Kim Định,
Ibid., trg. 316), và chúng ta cũng không nên quên nhận định của Giáo sư
Huntington mà tôi đã nêu trong một phần trên: "Tây phương thắng trên
thế giới không phải là vì sự ưu việt của những ý tưởng, hoặc giá
trị, hoặc tôn giáo mà là ưu thế trong sự áp dụng bạo lực một cách
có tổ chức." (Huntington, Ibid., p. 51: The West won the world not by the
superiority of its ideas or values or religion but rather by its superiority in applying
organized violence). Ông Kiểng là một tín đồ Ca-Tô, nhưng có lẽ ông không
không biết rằng cái "luật vàng" (golden rule) ở trong Thánh Kinh mà
các tín đồ Ki-Tô giáo nói chung thường rất lấy làm hãnh diện, cho đó
là "tuyệt vời", lại là hơn 500 năm sau đi cóp của cụ Khổng:
"Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (cái gì mình không muốn thì
đừng làm cho người khác) nhưng viết lại với một nội dung kém cỏi:
"Hãy làm cho người khác những điều mình muốn người ta làm cho
mình". Các tín đồ Ca-Tô cũng thường được dạy "kính Chúa, yêu
người", Ông Kiểng chắc cũng không biết đến sách Luận Ngữ kể rằng
khi học trò hỏi về "Nhân" trong quan niệm về "nhân trị",
Khổng Tử đáp: "Yêu người". Đối với ông Kiểng, có lẽ
"công dung ngôn hạnh" hoặc "nhân lễ nghĩa trí tín" v..v..
không hề có một giá trị nào, chỉ cần tin vào Chúa là đủ. Ông Kiểng
đã dựa vào mớ kiến thức cũ kỹ, lạc hậu, và lệch lạc về Khổng
giáo để đả phá những giá trị tinh thần và đạo đức, trật tự xã hội
v..v.. những giá trị có hiệu lực và ưu thế có thể đẩy ngược những
giá trị của nền văn hóa Ki Tô ra khỏi bờ cõi của nhiều nước Á
Châu, trở về Tây phương. Điều nghịch lý là những giá trị của nền
"văn hóa cao nhất" của ông Kiểng lại đang bị chính Tây phương
đào thải. Tôi khuyên ông Kiểng nên đọc bài "Mẫu Người Lý Tưởng
Trong Đạo Nho" của Nguyễn Mạnh Quang, đăng trong trang nhà Giao Điểm,
để mở mang thêm một chút kiến thức, không phải là tất cả kiến thức,
về đạo Khổng và tránh viết bậy trong tương lai.
Bài NQ&TDTG của tôi đã gây nên một vài phản ứng
khác nhau. Loại phản ứng hạ cấp như của Nguyễn Sĩ Tiến trong tờ
"Tà Đạo" thì không đáng để tôi quan tâm. Còn một số phản ứng
khác có tính cách xây dựng thì có lẽ vì không hiểu ý tôi trong bài đó
cũng như không đọc kỹ. Đại cương thì những phản ứng này cho rằng
tôi chống sự tranh đấu của quý Thầy Quảng Độ, Huyền Quang, chống cuộc
tranh đấu của hải ngoại cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam. Họ
trách tôi chỉ nêu lên những điều tiêu cực mà không để ý đến những
điều tích cực trong bản "Phúc Trình" cũng như trong bản "Nhận
Định. Nếu đây là phản ứng của những người ngoại đạo thì chắc
tôi sẽ không bận tâm cải chính hay phân trần. Nhưng đây là phản ứng của
một số Phật tử nặng lòng với đất nước và Phật Giáo nên tôi đành
phải viết lên vài lời để quý độc giả suy nghĩ và tránh những ngộ
nhận về sau.
Thứ nhất, trong tất cả những bài tôi viết từ trước
đến nay, tôi chưa bao giờ ngỏ lời chống công cuộc tranh đấu của quý
Thầy Huyền Quang và Quảng Độ. Trong bài NQ&TDTG tôi đã viết:
"Những phát triển về tôn giáo nơi quê nhà từ đâu mà ra? Chúng ta
không thể phủ nhận công ơn kiên trì tranh đấu của quý Thầy Huyền
Quang, Quảng Độ.." và trong bài Giao Điểm phỏng vấn về Thông Điệp
Hướng Về Thế Kỷ 21 của Thầy Huyền Quang tôi đã vạch ra những sai lầm
của Đỗ Mạnh Tri, một tín đồ Ca-Tô, khi phê bình bản Thông Điệp này,
cùng nêu rõ bản Thông Điệp "chứa những nhận định tổng quát về
xã hội loài người, đôi chút về lịch sử Việt Nam và tinh thần Phật
Giáo, lên án các chế độ độc tài chuyên trị trái với ước vọng của
toàn dân."
Thứ nhì, khi phê bình bản "Nhận Định" của Hòa
Thượng Quảng Độ, điều rõ ràng là tôi không nhắm vào Thầy Quảng Độ,
mà trái lại, chủ ý của tôi là kéo Thầy ra khỏi vũng bùn văn chương mâu
thuẫn và những lời văn không thích hợp với một vị cao tăng như Thầy
Quảng Độ mà tôi tin rằng do Quê Mẹ thêm thắt vào hoặc tự ý sửa đổi.
Trong bản "Nhận Định" có những chi tiết xây dựng bắt nguồn từ
ưu tư của một bậc xuất gia về đạo pháp và dân tộc. Nhưng "người
ta" đã làm cho bản Nhận Định mất đi nhiều giá trị bởi những đoạn
văn quá kém cỏi, mâu thuẫn, và không thích hợp.
Còn về chống những nỗ lực tranh đấu hải ngoại cho nhân
quyền và dân chủ ở Việt Nam thì tôi không chống trên nguyên tắc, nhưng
vấn đề là tranh đấu như thế nào. Bài NQ&TDTG cũng như bài này
được viết với một tinh thần phân tích khoa học chứ không dựa trên cảm
tính cá nhân. Tôi muốn trình bày cho quý độc giả thấy thực chất của
Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và tác dụng thực sự của nó trên
bình diện quốc tế. Dựa trên những tài liệu phân tích của nhiều
chuyên gia, tôi bắt buộc phải đi đến kết luận là: Những điều hoang
tưởng vọng ngoại như "Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê
hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con" (Bước Qua
Ngưỡng Cửa Hi Vọng, trang 11), hoặc "Ủy ban Nhân Quyền Quốc Tế
cho rằng..." hay "Tổ Chức Ân Xá Hoa Kỳ tố cáo rằng..",
"Dư luận cả thế giới và nhất là Quốc Hội Mỹ đều tập trung
xoáy vào điểm..."v..v..đều nói lên sự yếu kém của những tổ
chức tranh đấu hải ngoại, tự mình không thể làm nên trò trống gì, cứ
phải dựa hơi những tổ chức, cơ quan ngoại quốc mà thực chất chẳng
có ảnh hưởng gì trên quốc tế, nhất là đối với các nước Á Đông.
Mặt khác, nhiều hành động của vài tổ chức hải ngoại
chỉ gây những phản ứng ngược chiều. Chúng ta có hi vọng tranh đấu thành
công cho nhân quyền, tự do, dân chủ ở Việt Nam bằng cách hung hăng phản
đối Thiền Sư Thích Thanh Từ sang Mỹ thuyết Pháp, hay Hòa Thượng Thích
Trí Dũng bằng những danh từ hỗn xược xấc láo? Tại sao chúng ta lại phải
sợ không dám để cho những phái đoàn nghệ sĩ từ Việt Nam sang trình diễn
ở ngoại quốc. Một màn múa rối nước, một bản đàn cò v..v.. có tác dụng
tuyên truyền bao nhiêu cho chủ thuyết CS hay đó chỉ là những nghệ thuật
dân gian của Việt Nam mà mọi người Việt Nam, trừ những kẻ vong thân vọng
ngoại mất gốc, đều có quyền hãnh diện. Tại sao chúng ta phải biểu
tình phản đối một cuộc triển lãm tranh nghệ thuật mà các họa sĩ là
những người từ Việt nam được mời sang? Sống ở trên một đất nước
mà bức tranh bà Maria trên có trét phân bò, hoặc một bộ tranh của một nữ
nhiếp ảnh gia da đen tự mình đứng cởi chuồng ở giữa, mỗi bên có 6
người da đen ngồi theo tư thế phỏng theo bức tranh nổi tiếng "The
Last Supper" của Ki Tô Giáo, được triển lãm ở một bảo tàng viện lớn
ở New York, bất kể sự phản đối của thị trưởng New York, một tín đồ
Ca-Tô, mà sao chúng ta không học được chút nào về chính những điều mà
chúng ta đang tranh đấu cho người dân Việt Nam? Những hành động phản đối
vô lối, vi phạm tất cả những mục tiêu mà chúng ta đang tranh đấu mong
sao cho có kết quả như nhân quyền, tự do, dân chủ v..v.. chứng tỏ rằng
chúng ta chưa trưởng thành về chính trị. Ngày xưa chúng ta thua CS về
quân sự, ngày nay chúng ta tiếp tục thua về chính trị qua những hành động
thiếu suy nghĩ, làm xấu hổ lây cho cả cộng đồng. Báo chí Mỹ đã nhiều
lần nhắc nhở là chúng ta phải tôn trọng tinh thần tự do và luật pháp
ở đây nhưng chúng ta vẫn cứ tiếp tục vi phạm những điều mà chúng ta
dùng làm chiêu bài tranh đấu. Một vị sư mà lại có cử chỉ hung hăng xông
xáo vào nơi trang nghiêm cửa Phật thốt ra giọng hạch sách "Thằng
Trí Dũng đâu" thì chúng ta phải hiểu là trình độ tu học và đạo
đức của ông ta không khác gì của một anh hùng Chợ Cầu Muối. Tuy ông
ta chỉ là một con nội trùng hay một tế bào ung thư trong Phật Giáo hải
ngoại, và chúng ta không có lý do gì để tổng quát hóa vấn đề, nhưng
những người Việt di cư có thể hãnh diện về những hành động trên hay
không, và có để cho những con nội trùng hay những tế bào ung thư như vậy
lan tràn trong Phật Giáo hải ngoại hay không? Bài viết này là một khẳng
định lập trường của tác giả. Một trong những điểm yếu nhất của
đa số những người muốn giữ độc quyền chống Cộng là cứ ai có ý kiến
khác với mình là y như rằng phải chụp mũ người ta là thân Cộng hay
làm tay sai, đầy tớ cho CS, hoặc lố bịch hơn nữa là "đón gió trở
cờ" mà không hiểu thế nào là "đón gió trở cờ". 26 năm qua
rồi, gió ở đâu mà đón, và cờ ở đâu mà trở. Một người đã ngoài
80 như cụ Đỗ Mậu cũng bị cái bọn mất gốc mạ lỵ là"về thăm
quê hương, nịnh bợ CS để CS thí cho miếng cơm thừa canh cạn". Thật
là hạ cấp và ấu trĩ hết chỗ nói.
Có người hỏi tôi "sao không thấy ông chống Cộng?".
Tôi trả lời dứt khoát: chống hay không là chuyện của tôi, không phải
chuyện của ông (none of your business). Vả chăng, tôi không có ý định bắt
chước giáo hoàng Stephen VII, khai quật một xác chết (giáo hoàng Formosus)
cho mặc áo mũ giáo hoàng, đặt ngồi lên ngai rồi đấu tố. Đây là việc
làm của đa số những người chống Cộng ở hải ngoại, một mặt tuyên
truyền trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác là CS "đã
sụp đổ từ 1989" do công của "đức thánh cha" liên minh với
Gorbachev, một mặt lại cứ khai quật cái xác chết CS lên mà đấu tố, y
như chuyện trong Thánh Kinh: Chúa đã chiến thắng Satan nhưng rồi lại bắt
Satan phải thoát khỏi sự chiến thắng của Chúa để ngự trị trên thế
gian ngày nay. Không có Satan thì Ki Tô Giáo dẹp tiệm. Không có CS thì một
số lái buôn chính trị trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng thất
nghiệp. Điều này giải thích tại sao CS vẫn sống giai sống mạnh trong cộng
đồng những người Việt di cư.
Để kết luận, tôi muốn nhắc đến bức Tâm Thư của
Hòa Thượng Thích Quảng Liên viết ngày 1 tháng 1 năm 2001 gửi "Quý Vị
Lãnh Đạo Đảng – Nhà Nước Việt Nam" và "Quý Vị Lãng Đạo Phật
Giáo Và Chư Tăng Ni Tự Viện". Theo nhận định của riêng tôi, bài
này này có giá trị gấp 100 gấp 1000 lần những bản văn chống Cộng rẻ
tiền được phổ biến ở hải ngoại. Hòa Thượng không trực diện chống
đối đôi co với chính quyền mà giữ ở vị thế quốc sư, mang ưu tư và
tâm huyết của mình ra để khai sáng cho chính quyền và Tăng Ni trên con
đường phục vụ cho tương lai Đạo Pháp và Dân Tộc. Chúng ta hãy đọc vài
đoạn trong bức Tâm Thư của Ngài, và xin quý độc giả tự mình đánh
giá những điểm xúc tích trong những đoạn trích dẫn từ bản văn này:
" 25 năm trôi qua, 25 năm trưởng thành, chúng ta không
nên ôm ấp thù hận, hãy mở rộng vòng tay đoàn kết dân tộc.., bỏ quá
khứ, xây dựng tương lai.... CS ngày nay không phải CS trước năm 1975, qua
quá trình lèo lái con thuyền chánh trị VN, chánh quyền đã và đang nhận
thức chuyển mình theo thời gian, thời gian là vàng ngọc. Cuối cùng nhận
thấy ai cũng là người yêu nước, yêu dân tộc bằng cách này hay cách
khác. Khác tư tưởng quan niệm không thành vấn đề, mà quan trọng là vấn
đề đoàn kết dân tộc, cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh...
Chánh quyền quang minh chánh đại, biết thương dân thì
dân thương mến kính trọng chánh quyền, chánh quyền đa nghi thì người dân
cũng sanh nghi đối với chánh quyền. Cuối cùng thì đưa lại sự chia rẽ
đối đầu không làm được gì tốt đẹp cho cả chánh quyền và nhân
dân..
Chánh quyền không nên nghĩ rằng Phật Giáo có âm mưu này
hay khác lật đổ chánh quyền CS. Hiểu như vậy hơi quá, ngoài ý nghĩ của
người tu sĩ đạo đức chơn chánh. Chánh quyền có đạo đức đối đãi
những nhà tu hành tốt, người tu hành đâu nỡ không đáp lại lòng tốt của
chánh quyền, lấy ân trả ân. Không thể lấy oán trả ân, cũng không dùng
oán trả oán, đó là mục tiêu chánh niệm của người tu sĩ thực hành đúng
lời Phật dạy..
Việt Nam có nguồn gốc văn hóa hơn 4000 năm văn hiến, có
nền đạo đức truyền thống Phật Giáo lâu đời, đã thâm nhập vào tâm
khảm của người dân hiền hòa song cương quyết, biết trọng
mình trọng người, đối đãi công minh, song không chấp nhận cường quyền
ác bá, xâm lăng, hướng ngoại...
Nếu chánh quyền lo sợ hay nghi có số người âm mưu phá
hoại mượn cớ diễn tiến hòa bình hầu lật đổ chánh quyền CS, thì Đảng
và Chánh Phủ nên nghi và đề phòng nơi ai khác chớ không phải mưu đồ
phát xuất từ giới Phật Giáo...
Trở về với nguồn gốc dân tộc, đạo đức truyền thống
tổ tiên dân tộc là điều tất yếu của người Phật Giáo, cũng như người
CS, chúng ta đã và đang sống trên lãnh thổ hình thể chữ S gồm nhiều
tài nguyên gấm vóc chúng ta phải giữ gìn và phát huy những cái đẹp gấm
vóc giang san.
Chánh quyền và nhân dân đoàn kết. Còn tu sĩ Giáo Hội Phật
Giáo chúng ta như thế nào? Chúng ta có tinh thần tương thân tương ái từ
bi hỉ xả trước khi chúng ta bước vào cửa nhà xuất thế, chúng ta còn
gì không thực thi tinh thần vô ngã vị tha, tinh thần lục hòa mà đức Phật
dạy các thầy Tỳ Khưu trước kia cũng như ngày nay.
Cố chấp không đem lại lợi ích – Chia rẽ thì chết ...
Tôi cũng lưu ý quý Thầy được rõ, và cần rõ ràng hơn
là kẻ thù của chúng ta không phải là đảng và nhà nước Xã Hội Chủ
Nghĩa, mà là nhóm người có tổ chức quốc tế hướng ngoại, âm mưu lật
đổ chánh quyền mà cũng âm mưu giết hại chúng ta nếu có cơ hội. Chính
vì vậy, sự đoàn kết hàng ngũ Phật Giáo rất quan trọng trong giai đoạn
hiện tại"..
Tôi xin nhắc để quý độc giả nhớ rằng Hòa Thượng
Thích Quảng Liên là một trong những vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Thống
Nhất tại Việt Nam trước và sau 1975.
*
* *
Phụ chú của 'Lời giới thiệu':
[1] CFR (tác giả Trần Chung Ngọc có đề cập trong bài viết):
The Council on Foreign Relations: Thành lập vào năm 1930 có 1800 hội viên [một
nữa ở New York, nữa khác rải rác trên khắp nước Mỹ] bao gồm các luật
gia, doanh nhân ngân hàng, khoa bảng, học giả.'Who rules America now?', G.W.
Domhoff, Touchstone books 1986, xem từ trang 85-111.
[2] The Agency: The Rise and Decline of CIA, John Ranelagh, A
Touchstone books, 1987, trang 642: "The inevitable result of the withdrawal behind a
human-rights-directed foreign policy and the termination of covert-action capability was a
quiet American disengagement that produced some noisy American 'failures'...
[3] sách đã dẫn, tr. 642: "They were doing analysis one thing
while the policy makers wanted to know something else. I used to have trouble with that. I
would say I needed some analysis by tomorrow afternoon and thay would say 'But we'll have
some new information next week. Can' t it wait?' and I would then have to say 'I don't
care. The President has to make a decision the day after tomorrow. I don't care what you'
re going to have next week..."

|
© Giao Điểm. Bài vở đóng góp, thư từ và
ngân phiếu xin gởi về: Giao Điểm, PO. Box 2188 Garden Grove, CA.92842, USA. Bài
đã đánh vi tính, xin gởi attachment về email: hoa63@hotmail.com |
|
|
. |
.......... |